Trang chủ
Kỷ niệm 60 năm thành lập Học viện ÂNQGVN
Giới thiệu
Tổ chức
Ba công khai
Hoạt động
Tuyển sinh
Đào tạo
Biểu diễn
Nghiên cứu
Thông tin nghiên cứu KH
Luận án Tiến sĩ
Luận văn Thạc sĩ
Biểu mẫu đăng ký NCKH
Mẫu đăng ký GS, PGS
Giáo trình
Hợp tác quốc tế
Liên hệ

Giảng viên
Sinh viên
Thư điện tử
Tin ảnh

Lượt truy cập: 5145922
Luận văn Thạc sĩ Thứ năm, 21/09/2017

Tác giả: Phạm Thị Lộc 
Đề tài: Giảng dạy một số ca khúc nước ngoài lời Việt tại trư­ờng Trung cấp Văn hoá nghệ thuật Vĩnh Phúc
Chuyên ngành: PPGDCNAN (Thanh nhạc)
Mã số: 60.21.02.02
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Ngọc Lan 
Ngày đăng: 07/10/2016

Toàn văn Luận văn

Tóm tắt Luận văn:

MỞ ĐẦU

  1.  Lý do chọn đề tài

Vấn đề giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt luôn được sự quan tâm của nhiều chuyên gia, những nhà nghiên cứu cũng như đội ngũ giáo viên Thanh nhạc ở các đơn vị đào tạo nghệ thuật ở trong nước. Bởi ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt thường có giai điệu đẹp, thuận lợi về âm thanh, các quãng phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trung cấp dễ hát.

Việc giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt, bên cạnh mục đích trang bị cho học sinh về những kỹ thuật, kỹ năng của Thanh nhạc, thì các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt còn gợi mở cho học sinh những tri thức về con người, văn hóa, đời sống, thẩm mỹ xã hội… nhằm hướng các em tới những giá trị nhân văn, những cái hay, cái đẹp và các chuẩn mực của Thanh nhạc chuyên nghiệp. Vì vậy, để giúp cho hoạt động giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt ở chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa Âm nhạc cho Trường văn hóa nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc đạt chất lượng và hiệu quả cao lại vừa tiếp thu, phát triển những tinh hoa của nghệ thuật Thanh nhạc thế giới phù hợp với con người Việt Nam và lại vẫn giữ được nét độc đáo của tác phẩm, thì giải pháp việc nâng cao chất lượng giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt là một trong những vấn đề đang được đặt ra hết sức cấp thiết để phát triển chuyên ngành Thanh nhạc trong các trường đào tạo nghệ thuật, đồng thời lại mang hơi thở của thời đại, của con người Việt Nam hoà nhập với xu thế của thế giới, đặc biệt là đối với mô hình đào tạo như trường Trung cấp VHNT tỉnh Vĩnh Phúc.

Với vai trò là một đơn vị đào tạo về nghệ thuật duy nhất của tỉnh Vĩnh Phúc, trong những năm qua tr­ường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc luôn giữ mối liên hệ, hợp tác và giao lư­u với một số trường Văn hoá Nghệ thuật trong và ngoài khu vực, cũng như cả nước. Với tiêu chí nâng cao chất lượng giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt cho chuyên ngành Thanh nhạc, cũng là nhằm đáp ứng yêu cầu về mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo ở chuyên ngành Thanh nhạc của Nhà trường, trong đó phải kể đến việc sử dụng một số lượng khá lớn các ca khúc nghệ thuật nước ngoài được chuyển dịch sang lời Việt nhằm phục vụ yêu cầu trên cũng như là những giải pháp hiệu quả trong việc giảng dạy chuyên ngành của đội ngũ giáo viên Thanh nhạc của Nhà trường.

Nghiên cứu về giảng dạy và nâng cao cách thể hiện những tác phẩm Thanh nhạc thì đã đ­ược nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập và đư­a ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chuyên ngành Thanh Nhạc. Nhưng nghiên cứu và đưa ra giải pháp về giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt trong chương trình giảng dạy Thanh nhạc còn rất ít. Đặc biệt là tại trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc thì chưa có.

        Với những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài: Giảng dạy một số ca khúc nước ngoài lời Việt tại trư­ờng Trung cấp Văn hoá nghệ thuật Vĩnh Phúc làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu:

Nghiên cứu về thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt, không thể không nhắc đến GS. NSND Nguyễn Trung Kiên. Ông không chỉ là nghệ sĩ biểu diễn xuất sắc, người thầy mẫu mực trong lĩnh vực đào tạo Thanh nhạc, nhà nghiên cứu, mà ông còn là tác giả của nhiều cuốn sách có giá trị như:

- Phương pháp sư phạm Thanh nhạc. Nhà xuất bản Âm nhạc (2001). Đây là cuốn sách viết về phương pháp giảng dạy Thanh nhạc của Việt Nam, Nội dung nghiên cứu sâu về quy trình đào tạo Thanh nhạc bao gồm: Xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, giáo trình, các vấn đề lý thuyết và thực hành về phương pháp sư phạm có thể áp dụng cho giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt.

- Bộ giáo trình Thanh nhạc hệ TC 4 năm. Bộ VHTT (2001- 2002). Bộ  giáo trình đã hệ thống được các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài từ thấp tới cao, hầu hết đều được ông dịch và đặt lời Việt

- Bộ giáo trình thanh nhạc hệ Đại học. (2006)

- Những vấn đề sư phạm Thanh nhạc. Nhà xuất bản Âm nhạc (2014).

           Nội dung cuốn sách đã đề cập những vấn đề về lý thuyết âm thanh học, phát triển những thói quen thanh nhạc, về thính giác thanh nhạc, sự tập trung chú ý, trí nhớ...

          Giới thiệu về kỹ thuật hơi thở của các ca sĩ nổi tiếng hát opera. Giới thiệu những nguyên tắc dành cho người mới học hát, đặc biệt thú vị là 100 câu hỏi- đáp ngắn gọn về những vấn đề cấp thiết của thanh nhạc thường ngày hay gặp, hay xảy ra.

          Những vấn đề công tác đào tạo thanh nhạc, trong đó vấn đề bức thiết nhất hiện nay đó là vấn đề giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên, đào tạo tài năng thanh  nhạc đỉnh cao, mốt số bài viết về những tác giả nổi tiếng...

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu xuất sắc, tiêu biểu khác như:

- Sách học Thanh Nhạc. PGS - NSND  Mai Khanh (1982), Bộ VHTT-Hà Nội.  Nội dung cuốn sách hướng dẫn thực hành bài tập luyện thanh, biểu diễn và xử lý ngôn ngữ trong ca hát, hỗ trợ cho giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt

          - Phương pháp giảng dạy Thanh Nhạc. NGƯT Hồ Mộ La (2008), NXb Từ điển Bách khoa - Hà Nội. Nội dung cuốn sách đề cập nhiều đến lĩnh vực lý thuyết trong vấn đề sư phạm Thanh nhạc và những kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu xử lý thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt của tác giả.

- Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật hát mới. PGS.TS - NSƯT Trần Ngọc Lan, Nxb Giáo dục. Nội dung cuốn sách đã nêu rõ đặc trưng của cấu âm tiếng Việt giữa nói và hát, một số ứng dụng cho việc nâng cao chất lượng tiếng hát Việt đối với thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài.

Bên cạnh đó còn có rất nhiều sách chuyên khảo về thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài có giá trị khác như:

         - Những tác phẩm thanh nhạc nước ngoài chọn lọc tập I, II, III, Dịch lời Việt GS.NSND Nguyễn Trung Kiên.

          - 2 tập ca khúc nghệ thuật “Con đường mùa đông”; “Cô chủ cối xay xinh đẹp” của F. Schubert do GS. NSND Nguyễn Trung Kiên biên dịch.

- Tuyển tập ca khúc nghệ thuật của các tác giả nổi tiếng thế giới (gồm cả lời nguyên gốc và lời Việt) do PGS.TS. Trần Ngọc Lan biên soạn.

- Tuyển tập những bài hát ru nước ngoài lời Việt của PGS. TS. Trần Ngọc Lan biên soạn

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

          - Chỉ nghiên cứu các Ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt.

          - Hoạt động dạy và học ca khúc nghệ thuật nước Ngoài hát bằng lời Việt ở chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa Âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt cho hệ Trung cấp tại trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

- Nghiên cứu hoạt động giảng dạy một số ca khúc nước Ngoài hát bằng lời Việt tại chuyên ngành Thanh nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

5. Ph­ương pháp nghiên cứu

5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

 Ph­ương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu:

- Các tài liệu có liên quan đến hoạt động dạy và học Thanh nhạc nói chung và việc dạy các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt nói riêng.

- Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.

5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Ph­ương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

  • Đội ngũ giáo viên và học sinh chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc về thực trạng dạy học các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt.

Phương pháp quan sát sư phạm:

Dự giờ giáo viên để bổ sung thông tin và giải thích những nguyên nhân của thực trạng giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt

Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn lấy ý kiến, trao đổi kinh nghiệm về giải pháp dạy và học các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt ở Nhà trường.

Phương pháp thực nghiệm:

Đề tài tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm mục đích kiểm định tính khả thi và đánh giá hiệu quả của việc áp dụng một số giải pháp trong việc giảng dạy một số ca khúc nước ngoài lời Việt.

Phương pháp chuyên gia:

Xin ý kiến đánh giá của các nhà khoa học về cơ sở lý luận, những vấn đề về dạy và học các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt và tính khả thi của các giải pháp luận văn đề xuất.

6. Đóng góp của luận văn:

- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những nhược điểm tồn tại trong việc giảng dạy ca khúc nước Ngoài lời Việt.

- Những nghiên cứu của đề tài còn là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp.

7. Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu gồm 2 chư­ơng:

Ch­ương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy ca khúc nước Ngoài lời Việt.

Ch­ương 2: Một số giải pháp giảng dạy các ca khúc nước Ngoài lời Việt tại trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GIẢNG DẠY CÁC CA KHÚC NƯỚC NGOÀI LỜI VIỆT

  1. Khái quát thể loại Ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt

Đối với những ca sĩ được đào tạo chuyên nghiệp tại các Học viện âm nhạc, Nhạc viện và các trường Văn hóa Nghệ thuật cũng như những người làm công tác giảng dạy Thanh nhạc đều đã từng hát cũng như biết đến các ca khúc nghệ thuật cổ điển nước Ngoài, đó là những tác phẩm với những nét giai điệu đẹp và thấm sâu làm rung động vào lòng người, nhất là khi các ca khúc nghệ thuật này được hát bằng lời Việt...

Để làm rõ thêm về thể loại ca khúc nghệ thuật được đặt lời Việt thì trước hết cần hiểu sơ lược về thể loại này

1.1.1. Ca khúc nghệ thuật

Thuật ngữ này xuất hiện ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, ban đầu nó mang ý nghĩa là bài hát thế tục với những sáng tác bằng tiếng Tây Ban Nha, nhằm để phân biệt với các ca khúc Tôn giáo bằng tiếng Latinh. Đến nửa sau của thế kỷ 18, thể loại này mới được phổ biến và phát triển rộng rãi và vượt ra ngoài biên giới Tây Ban Nha, rồi trở thành tên gọi một thể loại âm nhạc dành cho giọng hát.

Đến đầu thế kỷ 19, thời kỳ của âm nhạc lãng mạn, thì thể loại này mới được khẳng định và được coi là một thể loại nghệ thuật hàn lâm và nhất thiết phải có phần đệm. Các ca khúc nghệ thuật trở thành một trong những thể loại hàng đầu biểu hiện một cách đặc sắc những trào lưu âm nhạc của thời đại, đó là xu thế hướng nội nhằm biểu hiện những chiều sâu tinh tế nhất của tâm hồn con người. Chúng đã không ngừng được nâng cao, đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của các nhạc sĩ thuộc nhiều trường phái, tiên phong là các nhạc sĩ trường phái Đức - Áo, tiêu biểu là: F. Schubert (1797 - 1828); R. Schuman (1810 - 1856); J. Bramhs (1833 - 1897)... Ngoài ra còn nhiều nhạc sĩ khác cũng đã có những đóng góp không nhỏ như: F. Mendelssohn (1809-1847); R. Wagner (1813-1883); F. Liszt (1811-1886); Hugo Wolf (1860-1903); R. Strauss (1864-1949); G. Mahler (1860-1911); A. Schönberg (1874-1951) và Al. Berg (1885 - 1935).

Trường phái của Pháp cũng nổi lên với nhiều nhạc sĩ tên tuổi như: H. Berlioz (1803 - 1869); C. Gounod (1818 - 1893); J. Massenet (1842 - 1912); C. Debussy (1862-1918); G. Fauré (1825 - 1924); H. Duparc (1848 - 1933); M. Ravel (1875 - 1937) và R. Hahn (1874 - 1947).

Trường phái của Nga cũng với các nhạc sĩ như: M. I. Glinka  (1804 - 1857), rồi đến M. P. Mussorgsky (1839 - 1881); A. P. Borodin (1833 - 1887); N. Rimsky-Korsakov (1884 - 1908), P. I. Tchaikovsky (1840 - 1893) và S. V. Rachmaninov (1873 - 1943).

Việc làm nên một ca khúc nghệ thuật được công chúng đón nhận, thì trong đó phải nói đến sự kết hợp hoàn hảo giữa 4 yếu tố: nhạc sĩ, nhà thơ, ca sĩ và nghệ sĩ đệm đàn, những người đã tạo nên các ca khúc bất hủ. Ở đó ta có thể thấy, người nhạc sĩ sử dụng những nguồn mạch nghệ thuật của mình để trang điểm cho lời của bài thơ, phác họa nên bức tranh mà nhà thơ chỉ mới mường tượng ra. Thông qua phần thể hiện hoàn hảo song tấu giữa ca sĩ và nghệ sĩ đệm đàn đã như thổi hơi vào bức tranh ấy để tạo nên một thực thể sinh động, đó cũng chính là kết quả của sự phối hợp hoàn chỉnh cả 4 yếu tố trên.

Ở thế kỷ 19, các nhạc sĩ lại rất đặc biệt chú ý đến tính chất hát nói (Recitative) trong các ca khúc nghệ thuật, ví dụ như trong các tác phẩm của P.I. Tchaikovsky hay của S. Rachmaninov, đôi khi ta thấy nó còn gần gũi với thể loại Aria trong Opera, đó là sự phát triển kịch tính mang quy mô lớn trong tác phẩm của họ. Điều đáng chú ý là quá trình phát triển của thể loại này lại có liên quan mật thiết đến lịch sử phát triển của nghệ thuật thơ ca. Cụ thể như các sáng tác của F. Schumann với tác giả thơ H. Heine; M. I. Glinka với A.S. Puskin và P.I. Tchaikovsky với L.N Tolstoy…

Bên cạnh các ca khúc nghệ thuật thuộc loại kinh điển, mẫu mực, mang nội dung trữ tình, thì giai đoạn nửa sau thế kỷ 19 cũng đã có sự xuất hiện của những ca khúc dành cho ca hát đại chúng có phong cách gần gũi với đời sống xã hội, nhưng vấn đề này không tách biệt mà đôi khi còn được kết hợp nhuần nhuyễn trong sáng tác của các nhạc sĩ. Bên cạnh đó lại xuất hiện một khuynh hướng khác của thể loại này, đó là các ca khúc nghệ thuật được tập hợp thành tổ khúc Thanh nhạc lớn, trong đó bao hàm các ý tưởng và chủ đề âm nhạc vô cùng đa dạng và luôn mang tính chất tương phản rõ rệt, những điều mà khó có thể đạt được nếu chỉ ở trong phạm vi nhỏ. Từ đó đã hình thành nên thể loại có tên gọi “tổ khúc” dành cho Thanh nhạc. Lúc này, các ca khúc nghệ thuật đã được mở rộng thành phần biểu diễn, đánh dấu sự ra đời của các ca khúc dành cho vài giọng hát hoặc một giọng hát với phần đệm gồm nhiều loại nhạc cụ, điều này đã làm cho tổ khúc có sự gần gũi hơn với thể loại Kantate và các tác phẩm giao hưởng hợp xướng.

Thể loại Tổ khúc cũng đã gắn liền với tên tuổi những nhạc sĩ tiên phong như: L. Beethoven với tác phẩm - Đến với người yêu dấu phương xa (1816); F. Schubert - Cô thợ xay xinh đẹp (1923); Con đường mùa đông (1827) và còn nhiều nhạc sĩ tên tuổi khác. Thể loại Tổ khúc lúc này đã trở thành tinh hoa cho sự kế thừa trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc của nhiều nhạc sĩ ở thế kỷ 20, trong đó phải kể đến như: P.Bulez (Pháp), B. Britten (Anh quốc), S. Prokofiev (Nga), D. Schostakovich (Nga), G. Sviridov (Nga)... 

Sang thế kỷ 20, ngay từ những thập niên đầu tiên, ca khúc nghệ thuật đã tạo nên bức tranh phát triển đa sắc. Song song với việc phát huy những truyền thống tốt đẹp của thế kỷ 19, các nhạc sĩ giai đoạn này đã luôn cố gắng tìm tòi những phương thức sáng tạo mới. Trong mỗi tác phẩm, sự kết hợp giữa âm nhạc và thơ ca là một cách xử lý riêng biệt không lặp lại. Từ đây đã hình thành nên một loại hình mới có tên gọi thơ với âm nhạc, điều này đặc biệt rõ nét là trong các sáng tác Thanh nhạc của nhạc sỹ C. Debussy với tác phẩm - Năm bài thơ của nhà thơ Pháp P. Baudelaire . Dựa trên thẩm mỹ âm nhạc mới, các tác giả đã làm cho các ca khúc gần gũi đến mức tối đa với ngữ điệu tự nhiên của ngôn ngữ nói. Chính vì vậy nên họ thường tìm đến với các thể thơ tự do, thậm chí có cả văn xuôi, như trong các tác phẩm - Những bài ca Bilitis của nhạc sĩ C. Debussy hay trong tác phẩm - Con vịt xấu xí của nhạc sĩ S. Prokofiev...

Các ca khúc ở thế kỷ 20 cũng đặc biệt đề cao đến vai trò của phần đệm của cây đàn Piano, với tính chất độc lập và những hình tượng sắc nét, chúng ta có thể nhận thấy được điều này trong ca khúc của các nhạc sĩ như: C. Debussy và S. Rachmaninov. Vì vậy, các sáng tác kiểu này còn được mang tên gọi nữa là Romantic - Prelude. Một khía cạnh quan trọng khác, đó là việc mang dân ca vào trong các ca khúc, như chúng ta thấy trong các sang tác của các nhạc sĩ: I. Stavinsky hay M. Ravel...

Ở giai đoạn này, cũng xuất hiện một số tác giả thuộc các trường phái âm nhạc như Anh quốc và Mỹ, họ cũng đã đặt dấu ấn khá đậm nét với những ca khúc bất hủ, ở đây có thể kể tên:

Trường phái Anh quốc có: Ralph Vaughn Williamsliams “1872 - 1958”) và Benjamin Britten “1913 - 1976” được coi là những nhân vật chính trong thể loại ca khúc trường phái Anh quốc.

Ở Mỹ, thể loại ca khúc phát triển khá tốt. Chúng ta không thể không kể đến các nhạc sĩ tiêu biểu như: George Gershwin “1898 - 1937”; Aaron Copland “1900 - 1990” hay Charles Ives “1874 - 1954” họ đã để lại một khối lượng ca khúc hết sức phong phú. Bên cạnh đó, còn có các nhạc sĩ đương đại như Ned Rorem  “1923”, Jake Heggie “1961”... cũng đã có những đóng góp quan trọng đáng kể cho thể loại ca khúc nghệ thuật.

Về đặc điểm và tính chất của thể loại ca khúc nghệ thuật cũng rất phong phú, chúng ta có thể nhận thấy, xen kẽ cùng với những tác phẩm trữ tình còn có những tác phẩm mang tính chất vui nhộn, anh hùng ca... Các nét giai điệu ở mỗi tác phẩm luôn tinh tế, tỉ mỉ và thường được sáng tác dựa trên các bài thơ. Âm nhạc không chỉ biểu hiện tính chất chung của bài thơ hoặc cấu trúc của mỗi khổ thơ, mà còn phải biểu hiện rõ hình ảnh, đường nét phát triển của nhịp điệu, ngữ điệu. Khuôn khổ của những ca khúc thường rất vừa phải.

Trong mỗi ca khúc nghệ thuật, phần đệm piano đóng vai trò biểu cảm vô cùng quan trọng, nó như một nhân tố cấu thành chứ không đơn thuần chỉ là phần đệm cho giọng hát. Từ đó đã sinh ra một số thể loại như: Ballade, Elegie, Barcarolla… theo nhịp của các vũ điệu như Menuete... Với đặc điểm như vậy, ca khúc nghệ thuật đã có một chiều dài lịch sử hình thành và phát triển cũng như biến đổi vô cùng phong phú.

Có thể nói rằng, không một giây nào trên toàn thế giới là không có hàng ngàn, hàng triệu giai điệu của các ca khúc nghệ thuật vang lên cùng lúc. Bởi thế, trong cuộc đời của mỗi con người, dù ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ ai cũng đều đã từng nghe những ca khúc nghệ thuật.

Đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu và đưa ra những quan niệm khác nhau như:

Ca khúc nghệ thuật theo từ điển ngôn ngữ của một số nước có nền âm nhạc nổi tiếng thế giới như: Ý; Đức; Pháp; Nga; Anh; Mỹ... đều có chung nghĩa, đó là một bài hát được viết bởi một nhà soạn nhạc chuyên nghiệp, là sự giao hoà giữa âm nhạc và bài thơ để truyền đạt ý tưởng nghệ thuật, làm rõ tâm trạng và ý nghĩa của một bài thơ.

Trong từ điển Grove Music của Nhà xuất bản Oxford thì định nghĩa: Ca khúc nghệ thuật là bài hát dành cho các ca sĩ được đào tạo, thường dựa trên ý của một bài thơ với sự hoà lẫn nhau một cách tinh tế giữa Thanh nhạc và phần đệm piano.

Vậy, có thể khái quát về ca khúc nghệ thuật như sau: là thể loại kết hợp giữa âm nhạc với thơ ca, một loại hình âm nhạc hoà tấu thính phòng viết cho giọng hát có phần đệm của piano.

1.1.2. Ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt

Với những quan điểm vô cùng phong phú và đa dạng, các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt đã được nhiều tác giả nghiên cứu về âm nhạc nói chung cũng như Thanh nhạc nói riêng sưu tầm và đặt lời Việt, tất cả đều gọi ca khúc nghệ thuật với thuật ngữ Romance, để chỉ một thể loại âm nhạc hòa tấu thính phòng dành cho giọng hát với phần đệm đàn piano.

Nhiều người hiểu ca khúc nghệ thuật (Romance) nước Ngoài được đặt lời Việt là những bản tình ca. Nhưng cũng không hẳn như vậy, khái niệm tình ca chỉ là một khía cạnh của nghệ thuật Thanh nhạc dành cho thể loại này.

Theo các tài liệu cũng như sách dạy về âm nhạc dành cho SV của một số Học viện âm nhạc, Nhạc viện, của các trường VHNT và các đơn vị đào tạo âm nhạc thì đều viết rằng ca khúc nghệ thuật lời Việt là một thể loại âm nhạc hoà tấu thính phòng viết cho giọng hát đã được đặt lời Việt, có phần đệm của nhạc cụ.

Với hệ thống giáo trình cho chuyên ngành Thanh nhạc năm 2004 - HVÂNQGVN của GS. NSND Nguyễn Trung Kiên, trong đó ông cũng đã quan niệm rằng: “Ca khúc nghệ thuật lời Việt là thể loại Thanh nhạc mang tính chuyên nghiệp cao trên cơ sở lời Việt được phát triển nhằm biểu hiện rõ hơn nội dung của bài ca với phần đệm viết cho đàn piano”.

Trong cuốn phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật hát mới, PGS. TS Trần Ngọc Lan đã nhận định rằng: “Những các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt là thể loại ca khúc của các nhạc sĩ quốc tế được đặt lời Việt bởi các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu về Thanh nhạc Việt nam, trong thể loại đó đòi hỏi cả về kỹ thuật trong giọng hát của ca sĩ lẫn cách phát “âm tròn vành rõ chữ” của ngôn ngữ Việt” [20. Tr 20]

Như vậy, có thể khái niệm ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt là những ca khúc có xuất xứ từ những ngôn ngữ không phải tiếng Việt Nam và được viết thêm hay dịch sang lời Việt.

1.2. Vai trò, vị trí của ca khúc nghệ thuật lời Việt

1.2.1. Xét về mặt xã hội

Để có thể thấy được rõ hơn vai trò, vị trí của các ca khúc nghệ thuật trong đời sống xã hội của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng, thì cần phải hiểu quá trình phát triển của thể loại này, chúng tôi xin tóm tắt sơ lược quá trình phát triển thể loại này trên thế giới và trong nước như sau:

- Trên thế giới:

Hiểu một cách đơn giản về thể loại ca khúc nghệ thuật, đó là “một bài thơ được dệt nhạc” mà trong đó âm nhạc làm nổi bật ý thơ, thông qua khả năng với những xúc cảm được người ca sĩ chuyển tải. Có lẽ bởi bằng những khả năng độc đáo mà ngôn ngữ con người và âm nhạc đã được kết hợp với nhau để kết tinh thành một thể loại âm nhạc tuyệt vời này.

Tuy có thể nói các ca khúc nghệ thuật gắn liền với lịch sử con người nhưng để nghiên cứu về vai trò và vị trí thì chúng ta coi như lịch sử của thể loại này bắt đầu từ thời Trung đại.

Mặc dù vào giữa thế kỷ 16 khi loại nhạc đa âm phát triển cao, trong đó các bè giai điệu có khi phát triển độc lập (theo ngôn ngữ của âm nhạc đa âm), có khi cùng phát ra một lúc (ngôn ngữ hòa điệu) cũng có khi lại được đệm bằng nhạc cụ hoặc không có phần đệm... nhưng thể loại ca khúc nghệ thuật vẫn chưa được có tên gọi bởi ca từ khi này vẫn chỉ là một yếu tố phụ thuộc nhằm phục vụ cho âm nhạc. Xét về vai trò, vị trí của thể loại này thì chúng vẫn chưa thật sự được chú ý tới.

Cho đến thế kỷ 17, thời kỳ này chính là tiền đề cho sự phát triển của thể loại ca khúc nghệ thuật cũng như vị trí, vai trò của nó trong xã hội khi có một sự cải tiến về thể loại này trong âm nhạc ca kịch, do những nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn, cũng đã có bản ký âm và có ghi phần đệm với yêu cầu về độ khó trong kỹ thuật Thanh nhạc và độ tinh tế trong xử lý tác phẩm. Ở các tiết mục biểu diễn ở khoảng cuối giai đoạn thế kỷ 17 và 18, mặc dù các phần đệm piano đã xuất hiện khá nhiều nhưng ca sĩ lại là người diễn đạt chính bằng ca từ của tác phẩm. Điều này cho thấy các ca khúc nghệ thuật khi này đã được các nhạc sĩ, nghệ sĩ chú ý tới và dần được đặt ở vị trí chuyên nghiệp.

Khoảng nửa đầu thế kỷ 19, thể loại ca khúc nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao của kỹ thuật diễn tả, nghệ thuật thưởng thức cũng như sự hoàn thiện, đồng thời kết hợp và phát huy những tinh hoa quý báu nhất của thể loại này. Từ đây, giá trị nghệ thuật của các của thể loại này đã được nâng lên một tầm cao mới, ở giai đoạn này còn có sự xuất hiện của nhiều nhạc sĩ tên tuổi viết ca khúc nghệ thuật nhưng phải kể tới người tiên phong, mở đầu đó chính là nhạc sĩ F. Schubert, ông đã làm chuyển đổi từ một ca khúc tiểu phẩm trở thành một tác phẩm nghệ thuật lớn. F. Schubert là người viết ca khúc nghệ thuật hàng đầu của thời kỳ Lãng mạn, ông đã biết cách khai thác kỹ thuật biến tấu một giai điệu được xây dựng theo khổ thơ. Dựa trên một khuôn khổ căn bản cho mỗi khổ thơ, ông đã thay đổi giọng hát và các chi tiết của phần đệm một cách rất nghệ thuật và phù hợp với bản văn lời ca. Đó cũng chính là một trong những đặc điểm mới của ca khúc nghệ thuật, đánh gia một giá trị mới của thể loại này trong âm nhạc thời kỳ Lãng mạn.

Ở đây chúng ta cũng có thể thấy rõ những thay đổi lớn nữa của thể loại ca khúc nghệ thuật qua các tác phẩm của nhạc sĩ R. Schumann, với việc làm mới cho các ca khúc nghệ thuật của mình, ông đã có thêm những phần mở đầu (prelude), đoạn giãn tấu (interlude) và phần kết (postlude) đầy kỹ thuật và nghệ thuật làm phong phú thêm cho thể loại này. Sự hài hòa đó đã đạt đến đỉnh cao trong các ca khúc nghệ thuật của nhạc sĩ Hugo Wolf sau này. Có thể nói các nhạc sĩ thời kỳ này đã nâng thể loại này lên thành một sự hoàn hảo với một vị trí cao quý, sánh ngang với một số thể loại âm nhạc hàn lâm khác.

Quả thực như vậy, kế thừa những giá trị quý báu của lớp nhạc sĩ đi trước, các nhạc sĩ của thế kỷ 20 đã nối tiếp, khám phá và phát triển các ca khúc nghệ thuật, để đưa thể loại này đến gần với công chúng hơn nữa. Các nhạc sĩ thời kỳ này đặc biệt quan tâm tới mối liên quan giữa giọng hát với phần đệm piano, họ đã tiếp tục mở rộng âm vực cũng như kỹ thuật Thanh nhạc cho việc nâng cao khả năng diễn tả của các ca sĩ, thậm chí họ còn coi giọng hát là một loại nhạc cụ, điều này có thể thấy rõ trong các tác phẩm Vocalise, điều đó đã làm cho thể loại ca khúc nghệ thuật càng thêm sắc màu và có một vị trí vững chắc trong đời sống xã hội.

Ở một số nền âm nhạc mới như Mỹ, ca khúc nghệ thuật cũng đã được phát triển và nhiều thay đổi, như trong các ca khúc nghệ thuật của Aaron Copland “1900 - 1990”, Charles Ives  “1874 - 1954” và ở Anh quốc có Benjamin Britten “1913 - 1976”… Mặc dù phần đệm piano vẫn giữ vai trò phục vụ cho lời ca như ở giai đoạn giữa thế kỷ 19 đã có, nhưng các nhạc sĩ giai đoạn này đã có nhiều khuynh hướng mới dành cho phần đệm piano, nghệ sĩ đệm với vai trò ngày càng quan trọng hơn và là một thành phần không thể tách rời khỏi trong các ca khúc nghệ thuật. Những nghệ sĩ đệm đàn piano giờ đây đã trở thành một “đối tác bình đẳng” với các ca sĩ, chứ không chỉ là vai trò người đệm. Tuy có một vài nhạc sĩ cũng đã sử dụng dàn nhạc để làm “đối tác” với phần giai điệu trong các ca khúc nghệ thuật của họ, nhưng phần đệm piano của nghệ sĩ đệm đàn vẫn đóng một vai trò rất quan trọng.

- Ở trong nước:

Nhìn lại vấn đề này ở Việt Nam, có thể nói các ca khúc được đặt, dịch sang lời Việt đã có từ những năm đầu của thế kỷ XX, thời kỳ có nhiều biến chuyển với âm nhạc Việt Nam. Sau Thế chiến thứ 1, người Pháp cùng với nền văn hóa Tây phương du nhập vào Việt Nam, người dân Việt được tiếp xúc nhiều với văn hóa lãng mạn phương Tây, âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi âm nhạc phương Tây do người Pháp mang vào, để dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận này, một số nhạc sĩ Việt Nam đã soạn lời Việt cho những ca khúc Ngoại quốc này. Đây là thời kỳ mà hầu hết các bài hát được phổ biến rộng rãi trong công chúng chỉ là nhạc Pháp với phần lời ca bằng tiếng Việt.

Những năm 1960 là giai đoạn phát triển nở rộ các ca khúc nước Ngoài (nhạc ngoại Quốc) lời Việt, với rất nhiều các ca khúc nổi tiếng thế giới, trong đó có không ít những ca khúc nghệ thuật kinh điển được các nhạc sĩ Việt Nam đặt lời Việt. Có kể tên một số ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt tiêu biểu như: Bóng chiều tà (Serenade - Enrico Toselli), Dòng sông xanh (Danude blue - J. Strauss),  Khúc nhạc buồn (Étude Op.10 No.3 - Frédéric Chopin), Nhạc chiều (Serenade - F.Schubert)…

Việt Nam ngày nay đang trên con đường đổi mới, với sự thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, nhiều thể loại âm nhạc mới và phong phú của các nền âm nhạc trên thế giới đã được du nhập, nhưng thể ca khúc nghệ thuật nói chung, ca khúc nghệ thuật lời Việt nói riêng luôn giữ vững được vị trí và vai trò riêng của mình trong giai đoạn mới của xã hội.

Nhằm củng cố và phát huy để giữ vững giá trị cũng như vai trò của thể loại âm nhạc hàn lâm, trong đó bao gồm cả ca khúc nghệ thuật lời Việt. Ở khía cạnh nghiên cứu về vai trò, vị trí của ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt, tác giả Trần Ngọc Lan đã nêu lên luận điểm trong cuốn - Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát như sau: “ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt là loại hình nghệ thuật đã có sức mạnh biểu hiện lớn lao, khả năng phổ cập rộng rãi thông qua ngôn ngữ Việt” [20. Tr 3].

Từ những nghiên cứu trên cho thấy, vai trò và vị trí của ca khúc nghệ thuật nói chung và ca khúc nghệ thuật lời Việt nói riêng đã được sự quan tâm đúng mực của các cấp lãnh đạo và sẽ mãi mãi không thể thiếu trong đời sống âm nhạc của chúng ta. Ai đó có thể chưa thật rõ về thể loại này, nhưng chắc chắn nó vẫn đang hàng ngày tự nhiên thấm, ngấm vào tâm hồn của mỗi con người Việt với ngôn ngữ Việt Nam, làm cho cuộc sống này trở nên lãng mạn và có ý nghĩa. Nhưng sẽ thật là tuyệt vời hơn nữa nếu như mỗi chúng ta bỏ ra một chút thời gian và công sức để nghiên cứu, tìm hiểu về thể loại này.

1.2.2.  Xét về mặt giáo dục và đào tạo:

Cũng giống như âm nhạc cổ điển, ca khúc nghệ thuật cơ bản là một sản phẩm có nguồn gốc từ triều đình Trung đại phương Tây còn sót lại. Nội dung trong các ca khúc nghệ thuật ta thấy rất ít khi liên quan đến các hoạt động của con người, lời ca và âm nhạc của ca khúc nghệ thuật có khuynh hướng tinh tế, hoa mỹ và ở “đẳng cấp cao” và đòi hỏi nhiều yếu tố lặp lại (về mặt thính giác) để có thể thưởng thức và hiểu được một cách trọn vẹn.

Vì vậy, đối với thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài đã được dịch, đặt lời Việt, thì việc xử lý ngôn ngữ, ca từ là tiếng Việt Nam luôn phải đi đôi với các kỹ thuật Thanh nhạc phương Tây, cùng sự hiểu biết về tác phẩm với sự biểu cảm từ những lời ca, làm người nghe cảm nhận được những xúc cảm của tác phẩm từ người ca sĩ. Đây là điều tất yếu mà mỗi người học hát phải đạt được trong quá trình học tập và đó cũng chính là thước đo về mức độ kết quả đạt được trong hoạt động dạy và học Thanh nhạc chuyên nghiệp.

Đánh giá về vấn đề này, dưới góc độ của sư phạm, trong cuốn Phương pháp sư phạm Thanh nhạc - tác giả Nguyễn Trung Kiên đã nhân định rằng: “Ca khúc nghệ thuật lời Việt có một vai trò quan trọng trong việc rèn luyện, phát triển, hoàn thiện kỹ thuật Thanh nhạc và kỹ năng phát âm tiếng Việt trong nghệ thuật biểu diễn, đồng thời còn dạy cho học sinh những kiến thức về văn học, thơ ca, phong cách của từng tác giả, nhiều thời đại khác nhau...” (12. Tr 29)

Trong cuốn phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật hát mới, tác giả Trần Ngọc Lan cũng đã viết: “Việc học hát các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt chính là quá trình lyện tập kết hợp giữa sự tinh tế của ngôn ngữ Việt với kỹ thuật Thanh nhạc quốc tế, làm tăng khả năng truyền cảm những rung động tâm hồn bằng việc hát rõ nét lời ca đó...” (20. Tr 55).

Cũng với ý đó, tác giả Hồ Mộ La trong cuốn - Phương pháp giảng dạy Thanh Nhạc đã viết: “ …Các ca khúc nghệ thuật lãng mạn (Romance) lời Việt đều gắn liền cùng với sự phát triển của thơ ca, văn học, thậm chí cả hội hoạ, trong đó lời ca khúc cần phù hợp với lối phát âm của người Việt, tuyến giai điệu phát triển đúng với ý thơ. Điều mà các ca sĩ tương lai cần phải đạt được” (19.Tr 241).

Từ những nghiên cứu trên đã cho thấy, vai trò và vị thể loại ca khúc nghệ thuật lời Việt  hiện nay là vô cùng quan trọng. Như chúng ta đã biết, thể loại ca khúc nghệ thuật đã xuất hiện từ rất lâu và nghệ thuật Thanh nhạc cũng đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của mỗi ca khúc nghệ thuật. Vậy làm sao để có thể vừa đảm bảo và giữ gìn được những giá trị riêng của loại hình âm nhạc hàn lâm này mà lại vừa tiếp thu những tinh hoa từ các loại hình nghệ thuật mới khác, đó là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với hoạt động giảng dạy chuyên ngành Thanh nhạc ở các đơn vị đào tạo âm nhạc trong nước nói chung và ở chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc nói riêng.

1.3. Thực trạng giảng dạy ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt tại trường Trung cấpVăn hóa Nghệ thuật Vĩnh Phúc

1.3.1. Chương trình đào tạo

Để có một định hướng đúng đắn cho việc giảng dạy của chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc. Chuyên ngành Thanh Nhạc đã xây dựng chương trình giảng dạy chuyên ngành Thanh nhạc, phù hợp với thế mạnh của chuyên ngành và nhu cầu về học chuyên ngành Thanh nhạc trong khu vực cũng như tỉnh Vĩnh Phúc.

Cũng theo như GS.NSND Nguyễn Trung Kiên đã viết về tính mục đích của việc xây dựng giáo trình trong cuốn - Phương pháp sư phạm Thanh nhạc: “...mở rộng tầm nhìn tư tưởng, giáo dục quan điểm chính trị, quan điểm nghệ thuật. Cần quan tâm giáo dục nhân cách cho học sinh song song với những kiến thức âm nhạc hằng ngày… trang bị kiến thức cho ca sĩ là yêu cầu quan trọng, rất cơ bản của chương trình đào tạo, đồng thời cũng là nhiệm vụ không dễ dàng, bởi vì đa số người học hát không được học âm nhạc từ nhỏ…” (12. Tr 11).

Vì vậy, phần lớn các học phần đã được xác định và xây dựng nhóm kiến thức chủ đạo của chuyên ngành; cơ cấu học phần, số tiết đào tạo; thời lượng thực hành... Với quan điểm này, chuyên ngành Thanh nhạc ở Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc đã xây dựng mục tiêu xuất phát từ mô hình hoạt động thực tiễn của Nhà trường cũng như mặt bằng trình độ của học sinh chuyên ngành, để từ đó xây dựng những mục tiêu cụ thể, đó chính là xây dựng một hệ thống chương trình Thanh nhạc có chất lượng về nội dung tư tưởng nhằm trang bị những kỹ thuật, kỹ năng và kiến thức về nghệ thuật Thanh nhạc của thế giới và Việt Nam  (Hệ thống chương trình tại phụ lục số  1.Tr 61):

Qua chương trình đào tạo trên cho thấy một ưu điểm là học sinh được học số tiết thực hành có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên là rất lớn. Điều này giúp cho các em được luyện tập giọng hát  một cách kỹ lưỡng, thường xuyên và có nguyên tắc. Các giáo viên trong chuyên ngành Thanh nhạc khi được phỏng vấn đều có chung ý kiến cho rằng, tuy học sinh được học đầy đủ các thể loại âm nhạc như đã nêu trên, song thời lượng và số lượng chương trình xây dựng cho mỗi thể loại còn chưa thực sự phù hợp.

Với mục tiêu là giảng dạy dòng hát thính phòng là chính, mà chủ yếu là các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài đã được đặt lời Việt. Nhưng trong chương trình giảng dạy hiện vẫn còn có các tác phẩm thuộc thể loại dành cho thiếu nhi hoặc bài hát dân ca gốc, mang tính dị bản (do ký âm lại giai điệu nên nốt nhạc bị khác đi so với lối hát thực). Chương trình thi tốt nghiệp tuy cụ thể nhưng chưa đề cập rõ ràng, số lượng bài còn thiếu và ít. Các ca khúc nghệ thuật lời Việt cũng đã có nhưng số lượng hầu hết chỉ đáp ứng được đến năm thứ 2, còn đến năm 3 và 4 thì hầu như giáo viên phải tự sưu tầm vời nhiều nguồn khác nhau. Như vậy sẽ ít mang lại tính khoa học ứng dụng cao trong hệ thống giáo trình và chương trình giảng dạy, cũng như sẽ không tạo được sự chuẩn xác về ca khúc, có thể quá khó hoặc quá dễ so với yêu cầu của chương trình giảng dạy, hỗ trợ không hiệu quả cho hoạt động dạy và học thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt này của cả Thày và trò.

1.3.2. Phương pháp giảng dạy ca khúc nước Ngoài lời Việt ở chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc

Đối với phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo viên chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc khi lâu nay trong Nhà trường nói chung và chuyên ngành Thanh nhạc nói riêng vẫn tồn tại cách dạy khá công thức, máy móc (thầy bảo sao thì trò nghe vậy). Nhiều giáo viên vẫn còn cứng nhắc hoặc là quá chú trọng vào các nguyên tắc về kỹ thuật của chuyên môn giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài có lời Việt gây nên sự khô khan “một màu”, làm mất đi sự hứng thú cho học sinh và những khía cạnh khác như: tạo cảm hứng cho học sinh cảm thụ được ca khúc mà mình thể hiện, những sắc thái trong câu hát, ý nghĩa của lời thơ.

Như tác giả Mộ La đã viết trong cuốn - Phương pháp giảng dạy Thanh nhạc: “Ngay từ năm thứ nhất trung cấp, trên cơ sở trang bị kiến thức cần vận dụng phương pháp giảng dạy một cách hài hoà, dần dần trở nên một thói quen học bài tự nhiên cho học sinh” (19. Tr 238).

Như vậy, không có một phương pháp nào cụ thể mà người giáo viên cần sử dụng những phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm hướng dẫn, khuyến khích học sinh trực tiếp khám phá tác phẩm theo cách riêng của mình, tránh việc áp đặt cứng nhắc. Trong giảng dạy các ca khúc nước ngoài cần sử dụng thường xuyên phương pháp sư phạm tương tác và thay đổi cách giao bài cho học sinh, nhằm phát triển khả năng sáng tạo trong thể hiện tác phẩm kích thích đam mê nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Phần lớn giáo viên vẫn đều chủ yếu là sử dụng lại những “vốn bài”, các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt cùng phương pháp giảng dạy mà chính giáo viên đó đã được học, chưa có sự nghiên cứu thêm nên còn thiếu và chưa thật đáp ứng được với chương trình đào tạo chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

Trên đây là một số vấn đề nổi cộm về phương pháp giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt của đội ngũ giáo viên chuyên ngành Thanh nhạc tại Trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc, những vấn đề này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt - một thể loại đòi hỏi tính học thuật lại vừa mang tính sáng tạo nghệ thuật cao trong chuyên ngành Thanh nhạc. Do đó việc tăng cường và nâng cao nhận thức về vai trò của việc sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp cho thể loại ca khúc nước Ngoài lời Việt ở Nhà trường luôn cần được lãnh đạo các cấp quan tâm.

1.3.3. Thực trạng việc học tập của học sinh đối với thể loại ca khúc nước Ngoài lời Việt.

Thuận lợi:

Phần lớn học sinh theo học chuyên ngành Thanh nhạc đều có tố chất và chất giọng khá tốt. Các em luôn ý thức được tầm quan trọng của việc học các ca khúc nước ngoài giúp cho hoạt động học chuyên ngành đạt hiệu quả cao như thế nào. Bên cạnh đó, trong số những ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt trong chương trình giảng dạy của chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc nhiều bài có giai điệu hay, cao độ đơn giản với các quãng thuận nên dễ thuộc, dễ nghe, đặc biệt là có lời hát bằng ngôn ngữ Việt Nam. Vì vậy đã tạo được sự “gần gũi” giữa các ca khúc Nghệ thuật nước ngoài với học sinh và quá trình tiếp thu để ghi nhớ và thực hành cùng với giáo viên của các em.

          Việc được hát các ca khúc Nghệ thuật bằng tiếng Việt, là ngôn ngữ của giao tiếp hàng ngày nên cũng là yếu tố cho các em dễ học cũng như dễ tiếp thu hơn khi giáo viên “thị phạm” hay việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp cũng tốt hơn so với ca khúc hát bằng tiếng nguyên gốc. Sau khi đã được học, hầu hết học sinh cho rằng học chuyên ngành với các ca khúc Nghệ thuật nước ngoài lời Việt là rất quan trọng, ngoài trang bị kỹ thuật Thanh nhạc, các ca khúc Nghệ thuật nước ngoài còn có giá trị hữu hiệu cho các em sau này khi ra trường các em có thể tiếp tục học tập, hoàn thiện kiến thức và nâng cao trình độ.

Khó khăn:

- Trình độ đầu vào:

Hàng năm, chuyên ngành Thanh nhạc vẫn tuyển sinh cùng đợt với hệ Trung cấp chuyên nghiệp của cả nước. Tuy nhiên, thí sinh phần lớn là đối tượng học sinh ở các trường trung học phổ thông đến từ các địa phương trong tỉnh và một số địa phương lân cận. Mặt bằng chung về khả năng cảm thụ âm nhạc của các em chênh lệch nhau khi vào trường. Có em đã được học Thanh nhạc, có em hoàn toàn chỉ là năng khiếu bẩm sinh. Nhiều em chưa hề biết đến âm nhạc chính thống mà chỉ quen với loại âm nhạc thị trường. Do khả năng nhận thức âm nhạc của các em khác nhau, trình độ hiểu biết cũng khác nhau nên việc lĩnh hội các ca khúc nước ngoài cũng khác nhau.

- Quá trình học tập và rèn luyện:

Trong quá trình học tập, vấn đề luyện tập và nghiên cứu tác phẩm của học sinh, nhiều em vẫn còn ít chịu khó tìm hiểu, đào sâu suy nghĩ, vận dụng các kiến thức được học, vì vậy việc tiếp thu, sử dụng các kỹ thuật, kỹ năng cũng như cách thể hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế. Tình trạng trông chờ vào thầy dạy, chưa coi trọng vấn đề tự rèn luyện tư duy sáng tạo, thụ động trong việc luyện tập các ca khúc nước ngoài vẫn còn không ít.

Đối với thể loại ca khúc Nghệ thuật nước ngoài lời Việt ở chuyên ngành Thanh nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc tuy có nhiều thuận lợi như đã nêu trên thì vẫn còn nhiều khó khăn cũng như một số mặt chưa thực sự đạt với kỳ vọng, đó chính là hát lời Việt trong ca khúc Nghệ thuật nước ngoài, bởi tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn âm, đa thanh với nhiều âm thanh khép và bẹt nên gặp nhiều khó khăn cho học sinh khi hát thể loại này.

Cũng phải kể tới việc đặt lời Việt vào giai điệu của ca khúc Nghệ thuật nước ngoài đã gây ảnh hưởng do hạn chế tới âm thanh của giọng hát cũng như việc hát không được rõ lời, rõ nghĩa… bởi khẩu hình mở theo kỹ thuật Thanh nhạc cổ điển của phương Tây. Cùng với đó là lời Việt trong nhiều bài hát chưa đặt phù hợp với cao độ của nốt nhạc, ví dụ như lời kết trong ca khúc Bài hát ru của J. Brahms: “Con của tôi đã ngủ rồi” nhưng nếu chữ “ngủ” hát đúng với nốt nhạc thì sẽ bị mất dấu và học sinh sẽ hát thành “ngu rồi” và hầu hết giáo viên đều phải chuyển sang thành chữ “ngoan” để học sinh dễ hát. Đó là những khó khăn chính trong việc luyện tập các ca khúc nước ngoài lời Việt của học sinh chuyên ngành Thanh nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

Tiểu kết chương 1

Với tính chất ngắn gọn, giai điệu đẹp, thuận lợi về âm thanh, dễ hát của ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt đã được các trường đào tạo nghệ thuật thanh nhạc trong nước nói chung và trường Trung cấp văn hóa nghệ thuật Vĩnh Phúc nói riêng dã đưa vào chương trình  với một khối lượng ca khúc khá lớn nhằm phục vụ trong công tác giảng dạy, tuy nhiên nội dung chương trình và số lượng các ca khúc vẫn chưa được sắp xếp theo hệ thống. Vậy làm sao để chất lượng giảng dạy vừa đảm bảo và giữ gìn được những giá trị riêng của loại hình này, lại vừa tiếp thu những tinh hoa từ các loại hình nghệ thuật mới khác trong giai đoạn hiện nay. Đó là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với hoạt động giảng dạy của chuyên ngành Thanh nhạc ở các đơn vị đào tạo âm nhạc trong nước nói chung và ở Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc nói riêng.

Việc dạy và học các ca khúc nước ngoài ở chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn, bởi lẽ các em học sinh phần lớn sống tại những nơi điều kiện kinh tế khó khăn, ít được tiếp xúc, giao lưu với văn hoá nghệ thuật, hầu hết chưa được trang bị kiến thức về Thanh nhạc cũng như ca khúc nước ngoài được dịch sang lời Việt. Bên cạnh đó, điều kiện học tập của các em cũng gặp nhiều khó khăn, còn thiếu thốn về các phương diện như: phòng tập luyện chuyên môn, môi trường thực hành, các trang thiết bị nghe, xem, đọc, nơi ở của học sinh…

Qua thực tế nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, cần có những điều chỉnh nhất định để nâng cao chất lượng giảng dạy các ca khúc nước ngoài lời Việt. Trước mắt, đó là việc đội ngũ giáo viên chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc còn hạn chế về trình độ, sự hiểu biết mở rộng, nâng cao kiến thức, xây dựng giáo án cùng với phương pháp giảng dạy và luyện tập các ca khúc nước ngoài hát bằng lời Việt thật cụ thể, sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của chuyên ngành Thanh nhạc. Đây cũng chính là vấn đề mấu chốt và là cơ sở của một số giải pháp cho việc giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt mà chúng tôi đề cập ở chương 2.

 

 Chương 2

GIẢI PHÁP GIẢNG DẠY CA KHÚC NƯỚC NGOÀI LỜI VIỆT

CHO CHUYÊN NGÀNH THANH NHẠC KHOA ÂM NHẠC

TRƯỜNG TRUNG CẤP VHNT VĨNH PHÚC

2.1.Đổi mới, bổ sung - điều chỉnh chương trình , giáo trình giảng dạy

Như chúng tôi đã đề cập trong Chương 1, chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc hiện nay đang sử dụng giáo trình theo khung chương trình cũ, so với hiện nay giáo trình đã bộc lộ một số bất cập và nhược điểm nổi cộm như: phân loại tác phẩm Thanh nhạc bậc Trung cấp chưa phù hợp. Đặc biệt là các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt còn thiếu nhiều và chưa được cập nhật thêm. Thời lượng và số lượng chương trình giảng dạy cho thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt còn chưa thực sự hợp lý. Chương trình giảng dạy hiện vẫn còn có các tác phẩm thuộc thể loại dành cho thiếu nhi hoặc bài hát dân ca gốc, mang tính dị bản…, như vậy là chưa phù hợp với thực tiễn đào tạo ca sĩ biểu diễn.

Với những lý do đó, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất giải pháp bổ sung, điều chỉnh giáo trình giảng dạy chuyên ngành Thanh nhạc sau đây, nhằm xây dựng tiêu chí cho chương trình theo hướng mới sát với thực tiễn và chuyên nghiệp hơn, đồng thời tăng thêm số lượng ca khúc nghệ thuật lời Việt để đáp ứng với yêu cầu về số lượng đủ phù hợp với thời lượng đào tạo, điều chỉnh nội dung chương trình với việc thêm hoặc bớt tác phẩm trong các học phần, nhằm đẩy mạnh những ưu điểm của chuyên ngành Thanh nhạc, cũng như thực hiện đúng theo thông tư số 16/2010/ TT - BGDDT đã ban hành. Với tiêu chí: ĐỔI MỚI = KẾ THỪA + CẬP NHẬT, chúng tôi đã xây dựng một chương trình giảng dạy trên tinh thần bổ sung và điều chỉnh, hướng tới sự chuẩn mực của Thanh nhạc chuyên nghiêp.

         Những vấn đề đổi mới bổ sung, điều chỉnh chương trình, giáo trình giảng dạy  tại (Phụ lục số 2 trang 71)

Trong những năm qua, nhu cầu về bổ sung các tác phẩm nước ngoài được dịch và đặt lời Việt ở hầu hết các trường VHNT từ khối Đại học tới Trung cấp là rất lớn, điều này được thể hiện rất rõ trong hoạt động giảng dạy tai các cơ sở này, trong đó bao gồm cả trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc. Hầu như các trường cũng đều nhận ra rằng nếu cứ tiếp tục theo đuổi những chương trình giảng dạy truyền thống thì việc dạy và học sẽ quanh quẩn với những tác phẩm đã theo lối mòn, thiếu sự liên thông cập nhật với quốc tế. Điều đó không chỉ hạn chế chất lượng đào tạo mà còn khó có thể nâng tầm vóc cho chuyên ngành cũng như uy tín các nhà trường thời hội nhập.

          Trên tinh thần sử dụng bộ giáo trình Trung cấp Thanh nhạc của HVÂNQG cùng nhiều tập tài liệu chuyên khảo của các chuyên gia đầu ngành Thanh nhạc như GS. NSND Nguyễn Trung Kiên và PGS. TS. NSƯT Trần Ngọc Lan, chúng tôi đã tổng hợp, chọn lọc những tác phẩm Thanh nhạc được đặt lời Việt (chủ yếu là ca khúc nghệ thuật nước Ngoài), nhằm bổ sung và tăng cường thêm số lượng ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt trong chương trình giảng dạy của chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc. (Phụ lục số 3 trang 84)

Trên đây là một số nội dung, tiêu chí và các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt mà chúng tôi đã xây dựng, dựa trên các tài liệu tham khảo nhằm bổ sung điều chỉnh cho chương trình giảng dạy hiện nay của chuyên ngành Thanh nhạc.

2.2.Về phương pháp giảng dạy

         Đề cập vấn đề này trong cuốn phương pháp sư phạm Thanh nhạc, tác giả Nguyễn Trung Kiên đã nêu: “mỗi thể loại tác phẩm Thanh nhạc có những đặc tính riêng biệt, đòi hỏi ở từng mức độ khác nhau về kỹ thuật cũng như nghệ thuật, mỗi loại mang lại lợi ích khác nhau trong chương trình học tập. Sử dụng các thể loại tác phẩm một cách hợp lý, tạo nên một hệ thống cho quy trình đào tạo, người thầy luôn phải bám sát các nguyên tắc sư phạm để tránh những sai lầm đáng tiếc trong giảng dạy” [11. Tr 31].

2.2.1. Hiểu biết về nội dung, ý nghĩa, tư duy thẩm mỹ của ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt.

2.2.1.1 Nội dung ý nghĩa của ca từ trong các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt:

Trong số các tác phẩm Thanh nhạc Cổ điển nước Ngoài nói chung và ca khúc nghệ thuật nói riêng, thì hầu hết đều thuộc dòng văn thơ cổ, nên câu chữ trong lời hát thường có ý ẩn dụ, hoa mỹ dễ gây nên sự “khó hiểu”. Khi các tác phẩm được dịch và đặt lời Việt cũng không tránh khỏi những vấn đề này.

Cụ thể là ca khúc Lời ca tung cánh của F. Mendelssohn. Ca khúc này nằm trong cuốn giáo trình hệ Trung cấp Thanh nhạc năm thứ 1 và thứ 2 của HVÂNQG đã được khá nhiều giáo viên lấy làm bài thi cho học sinh. Về xuất xứ tác phẩm thì đây là tác phẩm thứ 2 trích trong tập “6 ca khúc dành cho đàn và hát” (1834). Ca khúc có giai điệu bay bổng, lãng mạn đã được rất nhiều người yêu thích và sự nổi tiếng đó đến mức nó không chỉ còn là tác phẩm Thanh nhạc bất hủ của F. Mendelssohn mà còn được nhiều nhà soạn nhạc, hay nghệ sỹ tài năng như F.Liszt… chuyển soạn cho piano, violin... và nhiều loại nhạc cụ khác. Trong lời hát chúng ta thấy có những hình ảnh ẩn dụ, hoa mỹ ẩn ý như:

Lời ca thân yêu ơi tung cánh

Bạn cùng tôi bay đến chốn ước mơ

… Hoa sen đôi búp nghiêng nghiêng cười

Trăng trên cao soi sáng hoa cười…”

Ví dụ 1:

Lời ca tung cánh.jpg

Thực tiễn giảng dạy tại chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc đã cho thấy, đối tượng học sinh Thanh nhạc là những em học sinh còn trẻ về tuổi đời, hiểu biết về loại hình âm nhạc cổ điển còn rất hạn chế, nên các em sẽ gặp những khó khăn trong quá trình tiếp nhận thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài với những ca từ hoa mỹ có nhiều hình ảnh ẩn dụ, mặc dù đã có lời Việt. Đây chính là điều khó khăn cho học sinh khi học cũng như thể hiện các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài.

        Vì vậy, giải quyết cho vấn đề này, GV cần thực hiện theo những hướng sau:

         1. GV cần chuẩn bị kỹ khi soạn bài và quá trình giao bài cho học sinh, để đáp ứng đúng yêu cầu của chương trình đào tạo của chuyên ngành Thanh nhạc.

2. Điều quan trọng nhất là GV cần phải dẫn giải, khơi dậy cảm xúc để học sinh dễ biểu đạt từ những hình ảnh ẩn dụ trong ca từ đó, nhưng yêu cầu học sinh phải giữ được sự uyển chuyển của giai điệu, không làm mất đi tính chất trữ tình chủ đạo của ca khúc. Lý luận dạy học hiện đại đã nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của người học trong quá trình hình thành kiến thức. Vai trò trung tâm đó sẽ được phát huy nếu GV tạo điều kiện cho học sinh tự khám phá tác phẩm và phát triển năng lực cảm thụ tác phẩm cũng như khuyến khích sự hưởng ứng tích cực trong bài học. Ðiều này dẫn đến việc hình thành ý kiến cá nhân của chính các em, phát triển khả năng hiểu biết, nắm rõ tác phẩm.

3. Giải nghĩa những hình ảnh ẩn dụ hoặc hướng dẫn học sinh suy luận ý nghĩa của lời thơ dựa vào ngữ cảnh cụ thể, rút ra tư tưởng chủ đề của tác phẩm dựa vào các chi tiết được miêu tả… bằng cách xây dựng câu hỏi rồi giải nghĩa, phân tích...

2.2.1.2. Xét về mặt quan niệm tư duy thẩm mỹ nghệ thuật trong âm nhạc:

Chúng tôi lấy ca khúc Chim Sơn ca của M. Glinka làm một ví dụ điển hình. Ca khúc này nằm trong giáo trình Trung cấp Thanh nhạc năm 2 của HVÂNQG và cũng là ca khúc được nhiều học sinh hát trong các kỳ thi. Ý tưởng chủ đạo của ca khúc chính là chủ đề của tác phẩm, phần chủ đề trong ca khúc đã hoạ lại tiếng chim hót, với lối tư duy thẩm mỹ bằng âm nhạc như vậy, nhiều GV đã quên mất hoặc có thể bỏ qua vấn đề này khi giảng dạy ca khúc Chim Sơn ca, làm học sinh khó có thể hình dung được tiếng chim sơn ca qua phần  đệm.

Ví dụ 2:

Chim sơn ca.jpg

Với lý do trên, chúng tôi xin đề xuất một số gợi ý nhỏ cho vấn đề như sau:

1. GV cần hướng dẫn cho học sinh hiểu rõ về quan niệm, cách đánh giá các giá trị trong xã hội cũng như văn học - nghệ thuật ở xã hội phương Tây có nhiều khác biệt so với phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, mỗi xã hội có một sự cảm nhận, hiểu biết cũng như quan niệm riêng về sự vật cũng như hiện tượng. Cho nên, cảm nhận về tác phẩm theo sự hiểu biết ở mỗi nơi, mỗi giai đoạn sẽ có sự khác nhau.

2. Giúp học sinh liên tưởng để hiểu rõ hơn cảnh vật, ý nghĩa được miêu tả bằng cách: đọc diễn cảm lời thơ, yêu cầu học sinh đặt mình vào vị trí của nhân vật và hình dung thái độ, cách phản ứng trước các sự kiện, hoàn cảnh trong tác phẩm, gắn kinh nghiệm cá nhân học sinh với nội dung tác phẩm.

3. Để giúp học sinh hiểu và biết về thể loại ca khúc nghệ thuật mà mình đang học, giáo viên cần lưu ý đến chủ đề, ý tưởng của nhạc sỹ thường được bộc lộ một cách gián tiếp.

4. Giáo viên phải giúp học sinh suy luận cũng như lý giải cho các em về tư duy âm nhạc cũng như thẩm mỹ âm nhạc theo “hướng mở”, nghĩa là bằng phương pháp cụ thể hoá với những hình ảnh gần gũi với cuộc sống hiện tại xung quanh để học sinh dễ cảm nhận và hiểu được ý nghĩa của tác phẩm mà các em đang thể hiện

Như chúng ta đã biết, trong loại hình ca khúc nghệ thuật chúng ta còn có một thể loại khác gọi là hát Ru (Lullaby), tiếng Pháp là berceuse (be - xu - zơ) tiếng Anh là cradle song (bài hát bên nôi). Tuy hát Ru là một thể loại nhỏ nhưng lại có một vị trí quan trọng trong hoạt động sư phạm Thanh nhạc.

Chúng tôi lấy ví dụ về một trong số những bài Hát Ru nổi tiếng, đó là Wiegenlied (Vi - gừn - li) của nhạc sỹ J. Brahms viết năm 1868, bài hát nằm trong giáo trình Trung cấp thanh nhạc năm 2 của HVÂNQG. Xuất xứ của bài hát Ru này được nhạc sĩ viết tặng cho người bạn gái cũ của ông là Bertha Faber, nhân dịp cô hạ sinh bé trai thứ hai. Trong ca khúc có ẩn hiện nhiều nét giai điệu của một bài hát mà trước kia cô vẫn thường hay hát cho ông nghe.

Ví dụ 3:

hAT RU 1.jpg

Với ca khúc này thì yêu cầu sự hiểu biết về xã hội, về con người cũng như vốn kinh nghiệm sống là rất cần thiết để diễn tả được nội dung tác phẩm. Những hạn chế tuổi đời, vốn kinh nghiệm sống của học sinh cũng như hạn chế trong thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật cổ điển mà Chương 1 chúng tôi đề cập, đã thực sự bộc lộ những hạn chế rõ nét nhất, đặc biệt là ở những ca khúc nghệ thuật thuộc thể loại hát Ru này đã dẫn đến việc các em sẽ không thể hiện rõ hết tư tưởng của tác phẩm cũng như lời thơ với những ý văn học trong ca khúc.

         Để nhằm giúp đỡ học sinh vượt qua những khó khăn trên, chúng tôi đề xuất hướng giải quyết cơ bản để GV có thể sử dụng như sau:

1. Cung cấp những thông tin cơ bản về tác giả hoặc những sự kiện lịch sử xã hội liên quan đến tác phẩm này, hoàn cảnh khi tác phẩm ra đời, những đặc điểm tư tưởng, quan điểm của tác giả khi viết tác phẩm hát Ru.

2. Một trong những đặc điểm của quá trình “tiếp nhận” là học sinh sẽ học một cách hứng thú, nếu như các em tìm thấy trong các tác phẩm đó có mối liên hệ gần gũi với những vấn đề của chính bản thân các em đang sống. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật thuộc thể loại hát Ru, giáo viên cần phải nối kết một cách tích cực giữa thế giới trong tác phẩm cùng kinh nghiệm của bản thân để truyển tải đến học sinh những nét hay, nét đẹp của các ca khúc hát Ru.

3. Cần phải đa dạng hóa các hình thức dạy và học đối với ca khúc nghệ thuật nước ngoài thuộc thể loại hát Ru, làm cho học sinh cảm thấy hứng thú ngay từ mỗi ca khúc nghệ thuật được GV giao.

         Trên đây là một số định hướng cụ thể cho giải pháp Hiểu biết về nội dung, ý nghĩa của tác phẩm mà chúng tôi muốn nêu.

2.2.2. Điều khiển, kiểm soát hơi thở đối với thể loại ca khúc nghệ thuật

Vấn đề hơi thở cũng đã được các chuyên gia, các nhà sư phạm Thanh nhạc bàn tới. Nhưng ở góc độ giảng dạy về ca khúc nghệ thuật và để giúp cho việc luyện tập hơi thở của học sinh trong khi hát loại hình này, qua tổng hợp các tài liệu nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một vài ý kiến định hướng như sau:

2.2.2.1. Tầm quan trọng của hơi thở trong thể hiện ca khúc nghệ thuật

- Cơ chế về âm thanh là do sóng âm phát xuất từ khe của thanh quản và do thanh đới mở đóng tác động trên làn hơi từ phổi đẩy lên. Vì vậy, trong quá trình học hát các ca khúc nghệ thuật, khi muốn hát cao hoặc thấp, to hoặc nhỏ, kéo dài hoặc ngắn gọn... thì thanh đới phải căng ra ở một mức độ cần thiết, tương ứng với áp lực của hơi thở để tạo ra một âm thanh có cao độ, âm sắc, cường độ và trường độ theo ý muốn.

- Hơi thở góp phần làm rõ ý nghĩa của câu hát trong ca khúc nghệ thuật. tức là giúp cho bài hát thêm ý nghĩa, thêm sức sống. Ngoài ra hơi thở còn giúp thể hiện những cảm xúc tinh tế trong thể hiện ca khúc với việc ngắt hơi đúng lúc, cũng như những đoạn ngân dài cũng như để biểu hiện những đoạn cao trào của ca khúc.

2.2.2.2. Một số yêu cầu về hơi thở khi học ca khúc nghệ thuật nước Ngoài

Trong học hát ca khúc nghệ thuật, việc luyện tập hơi thở để làm sao cho đủ lượng hơi đủ cho từng câu hát dài ngắn, mạnh nhẹ, cao thấp khác nhau là rất cần thiết. Nói cách khác, trong học hát ca khúc nghệ thuật, việc tập điều khiển và kiểm soát hơi thở cho tốt cũng sẽ xử lý tốt sắc thái, cường độ, cao độ, trường độ đúng với yêu cầu của ca khúc.

Qua đây, chúng tôi xin nêu một số yêu cầu về phương pháp điều khiển, kiểm soát hơi thở với loại hình ca khúc nghệ thuật mà GV lên lớp cho học sinh chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc như sau:

Về lấy hơi (kiểm soát làn hơi):

- Cần phải nhẹ nhàng và hít vào mau lẹ bằng mũi và bằng miệng (tránh gây ra âm thanh của việc lấy hơi) như vậy làn hơi mới vào sâu trong phổi được.

- Giữ hơi thở ổn định trước khi bắt đầu hát, để lồng ngực luôn căng trong suốt câu hát.

- Không để nhô vai lên vì sẽ ảnh hưởng đến các cơ hô hấp, lấy hơi không sâu được.

- Không phình bụng ra trước khi lấy hơi, chính luồng khí đi vào sâu trong phổi đồng thời với việc hạ hoành cách mô làm cho bụng phình ra. Nếu phình bụng trước sẽ làm cho cơ thể bị căng cứng, ảnh hưởng xấu đến việc phát âm lời bài hát.

Về đẩy hơi (điều khiển làn hơi):

  • Không đẩy hơi quá mạnh khi hát, vì thanh đới vẫn rung và không khép kín hoàn toàn trong suốt quá trình hát, nếu đẩy hơi quá mạnh, sẽ làm thanh đới quá căng, ảnh hưởng tới âm sắc cũng như lời hát mất đi sự tinh tế.
  • Không để hết hơi hoàn toàn mới lấy hơi khác, như vậy âm thanh cuối câu hát dễ bị đuối đi, có thể làm đỏ mặt, đỏ cổ...
  • Không nên phí phạm hơi thở, phải biết Điều tiết, kiểm soát điều chế hơi thở sao cho phù hợp với tính chất của từng câu, để âm thanh vẫn âm vang đầy đặn từ đầu đến cuối câu.

- Đưa hơi thở ra chính xác, kết hợp cùng lúc với hoạt động của thanh đới, không sớm hay muộn hơn. Nếu sớm quá âm thanh của câu hát nghe cứng cỏi vì thanh đới căng ra trước khi làn hơi tới. Nếu muộn quá, âm thanh câu hát sẽ nghe không rõ mà lại tốn hơi, vì làn hơi đã đi ra trước khi thanh đới rung.

- Đưa hơi ra đều đặn, không đứt quãng hay quá căng. Khi hát những bước nhảy (từ quãng 4 trở lên), GV yêu cầu học sinh có động tác hơi ép bụng một cách mềm mại để âm thanh phát ra đúng cao độ và âm vang đầy đặn. Tạo thêm điểm tựa cho làn hơi. Các cơ bụng dưới hơi căng, tạo thành nền “bệ” vững chắc cho làn hơi bật lên.

2.2.2.3. Một số bài tập hơi thở cho việc học ca khúc nghệ thuật nước Ngoài

1. Bài tập bụng

- Đứng thẳng người: thẳng lưng, thẳng đầu, áp mặt hai bàn tay vào sau lưng để ngón cái nằm bên hông ngang thắt lưng.

- Đặt 2 bàn chân sát đất, mặt hướng ra phía trước, chân thẳng, người thẳng.

- Hít hơi từ từ và cảm nhận xương sườn đang nâng lên, bụng phình ra, sau đó ghìm lại 1 chút mới thở ta thật chậm, cảm giác xương sườn hạ và bụng co lại.

- Thân người không nghiêng qua nghiêng lại, không nhô lên nhô xuống (Bài tập này dùng để khởi động khi học thanh nhạc, hoặc để tập thể dục trong ngày).

2. Bài tập lồng ngực :

- Hai bàn tay nắm lại, thẳng ra phía trước, song song mặt đất và thở ra từ từ.

- Đẩy thẳng hai cánh tay ra phía sau cùng với động tác lấy hơi nhanh vào.

- Dừng lại một vài giây: ghìm hơi.

- Đưa hai tay ra phía trước như lúc đầu: thở ra từ từ ...

          3. Tìm cảm giác điểm tựa của làn hơi :

- Lấy hơi vào như thường lệ.

- Làm như “thổi bụi” nhưng ngậm miệng để cho hơi không thoát ra ngoài, nhưng hơi dội lại xuống hoành cách mô và tác động lên bụng, lên vùng xương chậu, làm căng các cơ ở xung quanh vùng đó. Đó được coi như điểm tựa của làn hơi trong khi chúng ta hát, nhất là khí phải hát cao, hát mạnh.

GV có thể tập cho học sinh với những mẫu âm sau:

Bài tập 1.

GV yêu cầu học sinh hát liền tiếng, ép nhẹ bụng ở phách thứ 4 “+” (C - A)

GV yêu cầu học sinh hát rời tiếng kết hợp ép nhẹ bụng mỗi khi hát cách dấu.

Với cả hai bài tập trên, GV yêu cầu học sinh khi chuyển quãng lên cao, giữ căng lồng ngực, nâng hàm ếch mềm và buông lỏng hàm dưới.

Như vậy, từ những vấn đề mà chúng tôi đã nêu trên là những cơ sở lý luận và khoa học để chúng tôi áp dụng điều khiển, kiểm soát hơi thở vào việc luyện tập loại hình các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt ở chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc

2.2.3. Một số bài tập kỹ thuật Thanh nhạc để áp dụng vào các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt.

Để giúp cho hoạt động giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt ở chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc đạt hiệu quả cao, chúng tôi xin đưa ra một số bài tập cơ bản về kỹ thuật Thanh nhạc cùng bài hát mẫu nhằm định hướng cho giải pháp với yêu cầu về kỹ thuật Thanh nhạc đối với các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt:

2.2.2.1. Kỹ thuật hát liền tiếng (Cantilena và Legato)

Đây là kiểu kỹ thuật Thanh nhạc cơ bản trên thế giới. Muốn đạt được hiệu quả kỹ thuật hát liền tiếng, GV có thể sử  dụng bài tập luyện thanh cơ bản cho kỹ thuật hát liền tiếng như sau:

Description: bai3lientieng.png

Bài tập này được xây dựng trên cơ sở nguyên âm A và phụ âm L. Dùng phụ âm L với mục đích tạo cử động cho lưỡi mềm mại, tạo ra một bật âm (attacca), âm thanh phát ra cùng một lúc của phụ âm L và nguyên âm A, đầu lưỡi đặt chấm vào chân răng hàm dưới, không co lưỡi lại hoặc cong lưỡi lên.

Bài tập này có thêm một quãng 4 (G – C) nhằm mục đích hướng âm thanh lên vị trí cao và giữ được vị trí khi xuống thấp (C –G) với quãng nhảy tương đối rộng.

Đối với các ca khúc nghệ thuật lời Việt, thì kỹ thuật này rất phù và có thể áp dụng kỹ thuật hát liền giọng với các bài hát Ru, một thể loại điển hình đỏi hỏi việc hát liền giọng. Ở đây chúng tôi xin lấy ví dụ một bài hát Ru của J. Brahm để học sinh luyện tập. Ca khúc này có giai điệu êm dịu, đung đưa với nhịp ¾, phần bè trầm với nhịp khoan thai, đều đặn như đưa trẻ thơ vào một giấc mơ thần tiên và gợi cho ta nhớ tới một ký ức đẹp trong tâm khảm.

“Chiều về thu mẹ ngồi ru

                                      Ngủ ngoan ngoan con yêu ơi…”

Với những ca khúc như thế này, trong mỗi câu hát GV cần hướng dẫn học sinh chú ý tới các nội dung sau:

- Ngoài việc hát liền các nguyên âm, thì việc phát âm những phụ âm còn phải sao cho nhanh và gọn.

- Luyện tập hơi thở phải sâu và sử dụng hơi thở tiết kiệm, có điểm tựa để kéo dài cũng như gắn bó chặt chẽ từng âm thanh, nhằm đáp ứng với yêu cầu phải vang, khoẻ, tròn, thống nhất về cường độ và âm sắc.

- Trong những bài luyện thanh giúp cho luyện tập kỹ thuật hát liền tiếng có đôi chút dễ hơn ở các tác phẩm, bởi trong các tác phẩm còn phải thực hiện việc ghép giai điệu với ca từ bao gồm nhiều nguyên âm và phụ âm, nên cần phải luyện tập với nhiều mẫu âm khác nhau.

Như vậy, để thể hiện đặc tính nghệ thuật trong các ca khúc nghệ thuật nước ngoài thì kỹ thuật hát liền tiếng cũng phải được đặc biệt quan tâm.

  1. K thut hát bật âm (Attacca) và âm ny (Staccato)

Thực tiễn trong giảng dạy ở chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc đã cho thấy, GV thường dạy kỹ thuật Staccato mà chưa chú trọng tới kỹ thuật Attacca nên hầu hết học sinh đều gặp nhiều khó khăn khi có yêu cầu sử dụng kỹ thuật này, đặc biệt là các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt. Để nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn, hạn chế của thực tiễn này, chúng tôi đã đề xuất bài tập dưới đây:

- Đối với bật âm (Attacca)

Khi tập bật âm Attacca cần gọn, rõ và ngắt kèm việc đẩy hơi, nhả chữ phải tròn, sáng, có đà và lực, sẽ thuận cho việc phát triển các nốt cao vì không tốn sức.

Bài tập 1. Dành cho kỹ thuật hát bật âm (Attacca)

Description: bai1nay.png

  • Đối với âm nảy (Staccato)

Khi luyện tập kỹ thuật Staccato, học sinh cần nhanh, sáng, nhẹ ghìm hơi để tạo được những âm thanh trong trẻo nhất, đẹp ở các quãng nhảy, kể cả những nốt cao nhưng phải đúng vị trí âm thanh, đúng nốt, kèm theo nhả chữ phải tròn và rõ

Bài tập 2. Dành cho kỹ thuật hát âm nảy (Staccato)

Trong cả 2 bài tập trên đều có nốt xuất phát thấp nhất là C1, khi GV cho học sinh tập những bài này, nên hát cao dần từng nửa cung một cho đến khi độ cao phù hợp với giọng.

Vấn đề áp dụng các kỹ thuật này vào trong quá trình học ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt của học sinh chúng tối thiết nghĩ, với những học sinh thuộc năm 3 hoặc 4 thì GV có thể luyện tập hoặc cho các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt có sử dụng kỹ thuật Staccato, còn đối với học sinh năm 1 và 2 thì cần tập trung vào tập kỹ thuật Attacca, với những lý do chúng tôi đã nêu trong phần bài tập

Trong phần kỹ thuật này, chúng tôi chỉ lấy ví dụ đối với ca khúc Bài ca hành quân của L. Beethoven, ca khúc nằm trong giáo trình Trung cấp Thanh nhạc năm 1 và 2 của HVÂNQG để áp dụng kỹ thuật hát bật âm Attacca.

Ví dụ 5:

Ca khúc được việt ở nhịp 4/4, với nét giai điệu mạnh mẽ, hào hùng, thuộc thể loại hành khúc, ngoài ý nghĩa để luyện tập tốt cho hơi thở của học sinh thì bật âm Attacca cũng rất hiệu quả khi GV cho học sinh hát ca khúc này.

Ngay từ câu hát đầu tiên trong ca khúc “Giờ từ giã lên đường đã đến rồi” đã yêu cầu người hát phải nhấn và bật được âm thanh với chữ hát đầu tiên rơi vào phách mạnh của nhịp. Đây là điều kiện thuận lợi cho việt áp dung kỹ thuật Attacca của học sinh vào ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt.

Mặt khác, kỹ thuật Attacca còn là phương thức tốt để học nắm được cách bật âm thanh một cách nhanh, gọn tiếng, tạo ra cơ sở để phát triển âm khu cao cũng như việc tập kỹ thuật Staccato cũng như trong ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt có sử dụng kỹ thuật này.

  • Kỹ thuật Attacca còn là biện pháp sửa những sai lệch như: hát sâu, tối. Sử dụng hơi thở cần phải liên tục, nhẹ nhàng, không sử dụng hơi thở theo kiểu đẩy mạnh (tống hơi) từng đợt mà phải bật hơi để giúp cho việc hát các âm với kỹ thuật Attacca được ổn định và mềm mại.

             Với những ưu điểm như trên, chúng tôi hy vọng GV sẽ khơi dậy cho học sinh sự tập trung vào luyện tập, để vừa lĩnh hội được kỹ thuật hát, lại vừa khắc phục dần những sai lệch nói trên của giọng hát.

2.3.4. Một số nguyên tắc cần chú ý về hát tiếng Việt

         Nghiên cứu và đề cập về vấn đề này, tác giả Trần Ngọc Lan đã viết trong cuốn Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát: “ Tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm, đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt và phương cách xử lý ngôn ngữ tiếng Việt, kết hợp với kỹ thuật “hát mới”, vận dụng vào tác phẩm Thanh nhạc tiếng Việt để có được âm thanh đạt yêu cầu mà không bị “biến dạng” và sai nghĩa của từ….” [20. Tr 113]

         Trong suốt quá trình học tập và giảng dạy, chúng tôi đã quan sát và nhận thấy ở sinh viên Thanh nhạc nói chung và các học sinh chuyên ngành Thanh nhạc của Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc nói riêng, khi sử dụng kỹ thuật Thanh nhạc để hát các tác phẩm nước ngoài bằng tiếng nguyên gốc thì các em tiếp thu và thể hiện tương đối tốt, nhưng khi áp dụng vào hát các tác phẩm đó bằng lời Việt thì hầu hết đều gặp nhiều khó khăn, đó chính là ngôn ngữ của Việt Nam, bởi tiếng Việt thuộc loại đa thanh, đơn âm với nhiều vần đóng (khép). 

         Vì vậy, giải pháp cho vấn đề hát tốt tiếng Việt trong các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài, thì người giáo viên khi giao bài, cần hướng dẫn cách học và chỉnh sửa cho học sinh về các nguyên tắc cơ bản trong phát âm tiếng Việt gồm các bước sau:

2.3.4.1. Vấn đề nguyên âm: có 2 loại nguyên âm Đơn và Kép.

1. Nguyên âm Đơn: Các nguyên âm được chia ra 2 loại âm sắc:

                   Loại tối: O, Ô, U;                    Loại sáng: A, Ơ, E, Ê, Ư, I

Ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt để áp dụng cho vấn đề này chúng tôi chọn ca khúc Bài ca hành quân của L. Beethoven. Ví dụ ở câu hát đầu tiên của bài

Giờ từ giã lên đường đã đến rồi

                                      Bao lo lắng xốn xang trong lòng…”

Trong khi hát GV nhắc học sinh cần chú ý tới các nguyên âm đơn trong mỗi chữ như: Ơ (trong tiếng giờ); Ư(trong tiếng từ); A (trong tiếng giã), Ê (trong tiếng lên), Ô (trong tiếng xốn), O (trong tiếng lòng)… Ở đây, nguyên âm A được coi là âm mẫu chuẩn, vì tính chất sáng sủa của nguyên âm này làm cho âm thanh giọng hát luôn sáng. Khi hát nguyên âm A, môi và hàm sẽ được mở tự nhiên, thả lỏng.

2. Nguyên âm Kép: có 2 loại - kép đôi và kép 3:

Loại kép đôi: ƠI, EO, AO, UI, OA, AI…

Loại kép tam: OAI, YÊU, ƯƠI

   Áp dụng vào lời trong ca khúc nghệ thuật Lời ca tung cánh của F. Mendelssohn:

Lời ca thân yêu ơi tung cánh

Bạn cùng tôi bay đến chốn ước mơ

… Hoa sen đôi búp nghiêng nghiêng cười

Trăng trên cao soi sáng hoa cười…”

Khi hát những chữ thuộc loại nguyên âm kép ƠI (trong tiếng lời), ÔI (trong tiếng tôi), AO (trong tiếng cao), OA (trong tiếng hoa), ƯƠI (trong tiếng cười)…

Với loại nguyên âm kép đôi và ba, môi phải đổi vị trí từ 2 đến 3 lần. Do đó, giáo viên phải chú ý tới hoạt động của môi và hàm ếch khi học sinh hát các ca khúc nghẹ thuật lời Việt với những loại nguyên âm kép trên, để tạo sự đồng nhất về mở khẩu hình.

2.3.4.2.Vấn đề về các phụ âm: có 2 loại phụ âm Đơn và Kép

          Phụ âm đơn: S, X, V, P, N, C, T, L, R…

Phụ âm kép: KH, NG, NH, CH, TR, NGH, PH…

          Chúng tôi cũng áp dụng vấn đề này vào trong lời hát của ca khúc nghệ thuật Bài hát Ru của J. Brahms làm mẫu ví dụ:

Chiều về thu mẹ ngồi ru

Ngủ ngoan ngoan con yêu ơi.  À ơi, à à ơi….

Chiều dần xuống mây mờ trôi…”

          Trong đó, phụ âm đơn ở vị trí đứng trước nguyên âm như: V (trong tiếng về), M (trong tiếng mẹ), R (trong tiếng ru), N (trong tiếng nào), Đ (trong tiếng đi), CH (trong tiếng chiều), NG (trong tiếng ngủ ngoan)... với vấn đề này GV hướng dẫn để học sinh chỉ cần bật môi thành tiếng rồi hát nguyên âm đi liền ngay sau đó và phải bảo đảm độ sáng của âm thanh.

          Khi phụ âm đứng sau nguyên âm: N (trong tiếng con; ngoan; dần), NG (trong tiếng xuống)… GV nhắc học sinh cẩn thận và chú ý khép từ sao cho rõ lời mà âm thanh vẫn vang.

          Khi hát việc phát âm “nhả chữ” cần chú ý đặt mềm, nhẹ các phụ âm đầu, khép âm cuối phù hợp với từng từ để đảm bảo các âm không bị biến dạng bởi ngôn ngữ Việt mà vẫn giữ được âm thanh, cao độ chuẩn mực nhưng hết sức tự nhiên. Vì vậy, việc cảm nhận và vận dụng cách phát âm tiếng Việt đi liền với hơi thở khi luyện tập cũng như biểu diễn thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt là vấn đề mà GV cần nhắc học sinh luôn luôn lưu ý. Bởi trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt gồm 3 bộ phận chính: Thanh điệu, Phần đầu và Phần sau. Phần đầu của âm tiết được xác định là Âm đầu; phần sau của âm tiết gọi là Vần.

         Do đó, trước khi cho học sinh thực hiện câu hát trong bài, GV cũng cần giải thích và yêu cầu học sinh nắm rõ các yếu tố tạo thành âm tiết như: Âm đầu, âm đệm (bán nguyên âm), nguyên âm, âm cuối và thanh điệu. Trong đó nguyên âm giữ vai trò chính để “khuếch đại” âm thanh.

         Điều này GV có thể lấy ví dụ trong lời ca trong Bài hát Ru làm mẫu cho việc phát âm, đó là tiếng Xuống gồm có XÂm đầu còn uôngVần và kết hợp với thanh Sắc nằm trên đầu nguyên âm Ô, tạo thành tiếng Xuống. Vì vậy để hát chính xác tiếng Xuống thì cần có sự kết hợp của các bộ phận phát âm như là: môi; răng; lưỡi; hàm ếch sẽ làm cho âm đầu nối với vần sẽ rõ ràng từ hơn, thanh sắc luôn giúp cho vị trí của âm thanh mỏng và sáng.

2.4. Thực nghiệm sư phạm

2.4.1. Mục đích thực nghiệm

Triển khai thực nghiệm trong thực tiễn để kiểm chứng tính đúng đắn của giải pháp mà luận văn đã nêu ra, nếu sử dụng hợp lý giải pháp đề xuất trong giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước ngoài hát bằng lời Việt thì sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy ở hai mức độ: thứ nhất là khả năng hệ thống hoá kiến thức về cấu trúc, phát âm tiếng Việt trong ca khúc nước ngoài lời Việt của học sinh cao hơn và thứ hai là việc áp dụng vào thể hiện ca khúc cũng sẽ tốt hơn.

2.4.2. Đối tượng và nhiệm vụ của thực nghiệm

Thông qua phương pháp đối chứng chúng tôi đã chọn đối tượng thực nghiệm là 2 lớp chuyên ngành Thanh nhạc (mỗi lớp gồm 3 học sinh TC 2 và 1 giáo viên) có trình độ tương đương, sau đó chia thành 2 nhóm để tổ chức thực nghiệm:

          Nhóm 1. Thực nghiệm (TN) là nhóm có thực hiện giải pháp nguyên tắc cần chú ý khi hát tiếng việt

Nhóm 2. Đối chứng (ĐC) là nhóm không thực hiện giải pháp  

Tiến hành thực nghiệm và đối chứng kết quả của nhóm 1 với nhóm 2 để so sánh và rút ra các kết luận về hiệu quả của giải pháp thực nghiệm.

2.4.3. Nội dung và tiến hành thực nghiệm

- Nội dung thực nghiệm:

Thực nghiệm được tiến hành đối với học sinh trong hoạt động học thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt tiêu biểu nằm trong chương trình đào tạo của chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc. Tổ chức thực nghiệm được thực hiện trong năm học 2014 - 2015, Ban trọng tài cho thực nghiệm gồm 2 người và một thư ký.

Chúng tôi cho rằng, các giải pháp đã đề xuất đều rất quan trọng và cần phải được tiến hành một cách đồng bộ, liên tục thì hoạt động giảng dạy nói chung và cụ thể là các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt mới đạt hiệu quả cao.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, xin được lấy giải pháp Một số nguyên tắc và cách phát âm trong tiếng Việt để tổ chức thực nghiệm. Bởi giải pháp này hiện nay đang có tính thực tiễn cao đối với hoạt động giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước ngoài hát bằng lời Việt, đó cũng là giải pháp cho vấn đề khó khăn cũng như hạn chế đối với hoạt động dạy và học các ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt tại chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

- Tiến hành thực nghiệm

Ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt mà chúng tôi lựa chọn để làm thực nghiệm cho giải pháp mà cả 2 nhóm TN và ĐC đều cùng tiến hành giảng dạy ca khúc Bài hát ru của J.Brahms. Trong đó học sinh ở nhóm ĐC giáo viên không sử dụng giải pháp, nhóm TN giáo viên sử dụng giải pháp.

Đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu và sách sư phạm Thanh nhạc đề cập tới vấn đề xử lý ngôn ngữ trong nghệ thuật ca hát. Khái niệm tròn vành, rõ chữ trong ca hát ở Việt Nam cũng luôn được nhắc tới từ xưa cho đến nay, khái niệm đó được coi như một chuẩn mực cho nghệ thuật ca hát ở Việt Nam.

Như vậy, nếu như một người học sinh không thực hiện được các yêu cầu của tiêu chí về cách xử lý phát âm tiếng Việt thì học sinh sẽ hát không rõ lời, đó cũng chính là đã đánh mất đi một trong những yếu tố nền tảng, khả năng miêu tả, trình bày chi tiết, cụ thể về ý nghĩa cũng như không diễn tả và truyền tải được đầy đủ nội dung của ca khúc, có khi còn làm cho ca khúc trở nên tệ hơn.

Vì thế, trong phần thực hành ca khúc Bài hát ru của J. Brahms, bên cạnh những yêu cầu mang tính khoa học và logic trong xử lý cách phát âm tiếng Việt thì tròn vành, rõ chữ cũng được chúng tôi lấy để làm tiêu chí so sánh kết quả cho phần thực hành của ca khúc thực nghiệm giữa 2 đội TN và ĐC.

Xử lý các loại nguyên âm

Như trong giải pháp chúng tôi đã trình bày, việc xử lý ngôn ngữ Việt với hai loại nguyên âm chính, là nguyên âm đơn và nguyên âm phức (âm kép; tam).

- Đối với yêu cầu hát mở bằng nguyên âm đơn trong ca khúc Bài hát ru của J. Brahms với các nguyên âm: e, ê, i/y, a, ơ, ư, o, ô, u. Ví dụ như câu hát:

Chiều về thu mẹ ngồi ru

Khi tiến hành so sánh giữa 2 nhóm như chúng tôi quan sát thấy, học sinh của nhóm TN thực hiện khá tốt ngay từ câu hát đầu tiên này, các em đã ý thức được với việc mở khẩu hình đối với các nguyên âm khi hát. Trong đó đặc biệt là các nguyên âm tạo độ sáng cho âm thanh như: a, ơ, e, ê, i, với ý thức hướng âm thanh rung ở chân răng để tạo độ sáng của câu hát, như ở trong câu sau:

À ơi à ơi… ngủ ngoan nào đi con

Học sinh của nhóm TN cũng đã áp dụng được tính chất sáng của những nguyên âm này làm cho âm thanh giọng hát luôn có độ sáng, khẩu hình mở một cách tự nhiên, môi và hàm được thả lỏng và được Ban trọng tài đánh giá điểm khá cao. Còn nhóm ĐC theo chúng tôi và Ban trọng tài quan sát thấy thì học sinh hết sức khó trong việc mở khẩu hình đối với các nguyên âm khi hát cũng như ý thức về độ sáng của âm thanh trong mỗi câu hát thì còn chưa đạt.

Với nguyên âm kép đôi (2) và kép tam (3) trong ca khúc này học sinh của nhóm TN cũng được Ban trọng tài đánh giá cao, theo chúng tôi quan sát như những câu hát có nhiều nguyên âm thuộc nguyên âm đôi (2) và nguyên âm tam (3)

…Chiều dần xuống, mây mờ trôi ...

hay là …Ngủ ngoan ngoan con yêu ơi…

Khi hát với những từ thuộc loại nguyên âm đôi (2) (mây; trôi…) và tam (3) (chiều; yêu…) như câu hát trên, các học sinh của nhóm TN cũng đã biết ý thức tới hoạt động của môi và hàm ếch ở mỗi loại nguyên âm kép 2 hay 3 để tạo sự được đồng nhất cho khẩu hình.

Xử lý các loại phụ âm

Cũng tương tự như nguyên âm, phụ âm cũng có 2 loại phụ âm Đơn như: s, x, v, p, n, c, t, r… và Kép như: ng, nh, ch, tr…

* Xử lý phụ âm đầu (khi chúng đứng trước nguyên âm).

Ở phần này, khi chúng tôi tổ chức kiểm tra để so sánh giữa 2 nhóm TN với ĐC, nhiều học sinh của nhóm ĐC do không được hướng dẫn cách phát âm các phụ âm đứng đầu của mỗi chữ với động tác bật môi ra sao kết hợp lưỡi cần phải như thế nào khi hát, nên dẫn tới việc học sinh của nhóm ĐC phát âm bị nặng nề, gây cảm giác khó nghe với những âm thanh “sột soạt” trong lời hát, đôi khi cảm giác như bị “tật” trong giọng nói. Ví dụ như trong những câu hát sau:

Chiều về thu mẹ ngồi ru

hoặc như câu:         … về mãi chân trời xa xôi

Trong đó, các từ như: Chiều; chân trời xa xôi, khi hát các phụ âm đầu đều cần phải bật âm nhẹ nhàng, nhưng theo quan sát của chúng tôi, học sinh nhóm ĐC khi hát đã biến phụ âm Ch thành TR trong từ Chiều (Triều) và Chân trời thành (trân trời) xa xôi là X đã biến thành S (sa sôi), nguyên do bởi học sinh chưa được giáo viên chỉnh sửa, uốn nắn về điều này, nên khi thực hành hát, học sinh của nhóm ĐC đã bật môi các phụ âm quá mạnh, dẫn đến phụ âm đầu bị nặng, gằn và “xiết” âm. 

Nhưng với nhóm TN, học sinh được giáo viên yêu cầu chú ý tới việc xử lý, cần phát âm các phụ âm đầu như thế nào để sao cho phù hợp và đạt hiệu quả về việc rõ lời một cách tốt nhất. Vì vậy chúng tôi cũng như Ban trọng tài cùng nhận thấy, ở nhóm TN hầu hết các em thuần thục hơn với cách bật âm môi và phát âm nhẹ nhàng để có thể nối hát tiếp với nguyên âm đi liền ngay sau đó.

          *Xử lý phụ âm khi đứng sau nguyên âm:

          Đối với việc xử lý phụ âm đứng sau nguyên âm, trong quá trình quan sát thực nghiệm, cùng với kết quả đánh giá của Ban trọng tài đã cho thấy, sự khác biệt giữa 2 nhóm TN và ĐC khi hát ca khúc thực nghiệm là rất cao.

          Ví dụ như câu hát:                  

                                                    Dòng sông lặng lờ trôi…

                                      hay …hàng cây đang ngủ yên trong giấc say…

          Ở nhóm TN do có sự nhắc nhở và giảng giải của giáo viên về việc chú ý những hiệu quả để đạt được rõ lời Việt mà các phụ âm khi đứng sau nguyên âm nào đó mang lại, kết quả đã chứng minh bằng việc “nhả chữ” trong câu hát dòng sông lặng lờ trôi… với phụ âm cuối là NG đã được học sinh của nhóm TN kết hợp một cách hài hoà hoạt động mở, khép của môi, hàm và lưỡi ở từng câu chữ, nên đã giúp cho việc đảm bảo các âm của ngôn ngữ Việt trong ca khúc của thực nghiệm không bị biến dạng mà vẫn giữ được âm thanh chuẩn mực cũng như cao độ, nhưng hết sức tự nhiên.

          Để đạt được kết quả đó còn là việc cảm nhận và vận dụng cách phát âm tiếng Việt được gắn liền với hơi thở khi luyện tập cũng như thực hành biểu diễn ca khúc mà học sinh nhóm TN luôn được nhắc nhở, lưu ý.

          Cũng với câu hát đó đối với nhóm ĐC, theo đánh giá của Ban trọng tài thì học sinh chưa đạt được rõ chữ so với yêu cầu về mặt phát âm và xử lý tiếng Việt trong ca khúc của thực nghiệm bởi các em còn quá chú trọng vào việc mở khẩu một cách “máy móc”, nghĩa là các em cố gắng làm sao để khẩu hình mở thật to, thật tròn mà quên đi các phụ âm của chữ mình đang hát, vì vậy các em đã không thể hát rõ lời của câu hát.

        - Đánh giá kết quả thực nghiệm

Đánh giá kết quả thực nghiệm giữa 2 nhóm. Chúng tôi tính theo thang điểm 10 để tổng hợp và so sánh. Như vậy, thực nghiệm đã định lượng được kết quả của học sinh bằng điểm số cụ thể như bản tổng hợp sau:

 

Nội dung đánh giá thực nghiệm

 

Điểm chuẩn

TN

ĐC

Điểm

Điểm

Thi học kỳ I

10

8, 5

7,0

Thi học kỳ II

10

9, 7

7, 5

                    Tổng                                                                  20

17, 7

14, 5

Bảng 2.1. Tổng hợp đánh giá các nội dung thực nghiệm của học sinh

Với kết quả như bảng trên cho thấy kết quả học kỳ I cho phần thi ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt, số điểm của Ban trọng tài cho như chúng tôi đã tổng hợp tại bảng 2.1, với nhóm TN là 8,5 và nhóm ĐC là 7,0. Sự chênh lệch trong học kỳ I này giữa 2 đội là tương đối khá.

Ở học kỳ II, cũng với phần thi tương tự. Trong khi nhóm ĐC chỉ đạt 7,5 điểm, thì nhóm TN đã đạt 9,7 điểm. Với số điểm như vậy, học sinh nhóm TN đã được Ban trọng tài đánh giá là nắm khá vững về cấu trúc, cách phát âm tiếng Việt theo tiêu chí của giải pháp.

Nhận xét:

Với kết quả thực nghiệm như trên đã cho thấy, sự cách biệt nhau về mức độ đạt được về cách phát âm trong tiếng Việt trong ca khúc nghệ thuật nước Ngoài giữa 2 nhóm TN và ĐC ở cả 2 học kỳ là rất lớn, nhóm ĐC có số điểm tổng chỉ đạt 14,5/ 20 điểm còn nhóm TN là 19,5/20 điểm. Điều này đã minh chứng cho tính hiệu quả của giải pháp một số nguyên tắc và cách phát âm trong tiếng Việt rằng, với phong cách giảng dạy cũ, học sinh chưa nắm chắc về cấu trúc và cách phát âm nên âm thanh bị hạn chế, “bẹt”, mỏng và ít vang. Còn khi học sinh hiểu và hệ thống được kiến thức về cấu trúc và cách phát âm thì âm thanh của từng từ được các em xử lý một cách phù hợp, giúp cho âm thanh được vang và lời hát rõ ràng hơn. Qua đó cũng làm sáng tỏ một cách khách quan những nguyên nhân đạt được hiệu quả của giải pháp 3. Việc này cũng sẽ hạn chế được những kết luận và nhận xét mang tính cảm tính, bởi thiếu số liệu cụ thể.

 

 

 

 

 

 

 

Tiểu kết chương 2

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cũng như việc tuân theo các nguyên tắc chung, luận văn đã đề xuất một số giải pháp cho việc giảng dạy các ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt.

Qua khảo nghiệm, đánh giá từ thực tiễn các giá trị một số giải pháp đề xuất đều có tính cần thiết và phù hợp với đặc điểm của chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

Có thể nói, đây là các giải pháp cơ bản nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được giáo viên, học sinh  đánh giá cao. Nếu các biện pháp này được thực hiện đồng bộ sẽ có tác dụng đổi mới trong công tác đào tạo của chuyên ngành Thanh nhạc - Khoa âm nhạc, trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

        Thực nghiệm sư phạm đã khẳng định tính hiệu quả và tính khả thi của việc sử dụng giải pháp Một số nguyên tắc cần chú ý khi hát tiếng Việt trong giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài hát bằng lời Việt. Khi mới tiếp xúc với giải pháp này, cả học sinh và giáo viên còn nhiều lúng túng, chưa chủ động với cách giao bài và thể hiện tác phẩm theo giải pháp này. Nhưng sau khi sử dụng giải pháp thì việc tổ chức hoạt động giảng dạy, nhận thức và hiểu vấn đề của học sinh đã được nâng cao hơn, hệ thống hoá kiến thức cũng tốt hơn, điều này còn được thể hiện trong phần thực hành biểu diễn các ca khúc nghệ thuật nước ngoài hát bằng tiếng Việt của học sinh .

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Trước yêu cầu mới về sự phát triển hệ thống đào tạo chuyên ngành Thanh nhạc giải pháp cho việc giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước Ngoài lời Việt luôn là một nhiệm vụ trọng tâm và là vấn đề vừa có ý nghĩa cơ bản, vừa có ý nghĩa cấp thiết hiện nay của công tác đào tạo của chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, Trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc.

 Từ truyền thống, kinh nghiệm và thực tiễn quá trình đào tạo của chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, Trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc trong những năm qua. Kết hợp với việc tiếp thu, vận dụng những luận điểm, các tiêu chí đánh giá chất lượng cho học sinh và cho chất lượng đào tạo Thanh nhạc từ các chuyên gia, các nhà sư phạm ở trong và ngoài nước. Chúng tôi cho rằng những luận điểm đó đã phản ánh khá đầy đủ, rõ nét, tập trung về thực tiễn giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài hát bằng lời Việt của chuyên ngành Thanh nhạc, Khoa âm nhạc, Trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc hiện nay. Trên cơ sở đó đã cho phép đề tài đi sâu khảo sát, đánh giá thực trạng giảng dạy thể loại này của chuyên ngành Thanh nhạc một cách khách quan, toàn diện, chặt chẽ.

 Để thực hiện tốt công tác giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài hát bằng lời Việt của chuyên ngành Thanh nhạc hiện nay, cần phải phân tích sâu sắc và đầy đủ các nhân tố tác động tới chất lượng đào tạo. Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn và phân tích các nhân tố tác động tới công tác giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt của chuyên ngành Thanh nhạc. Vì vậy, việc áp dụng và thực hiện các giải pháp phải được tiến hành đồng bộ, thường xuyên, liên tục. Điều này rất cần có sự chung tay, góp sức của tất cả các lực lượng trong Nhà trường, của bản thân mỗi học sinh. Đặc biệt là sự quan tâm của các Bộ, Ban ngành, cơ quan hữu quan trong Tỉnh. Song cần phải thấy rằng, tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình mà chuyên ngành Thanh nhạc phải xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm, từ đó có kế hoạch, chương trình hành động cụ thể cho việc giảng dạy thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt trong giai đoạn hiện nay.

Kiến nghị

         - Từ việc cụ thể hoá mục tiêu, mô hình đào tạo, xây dựng quy trình tuyển chọn đến việc xác định yêu cầu hoàn thiện quy trình đào tạo, xây dựng phương án đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo. Ban giám hiệu Trường Trung cấp VHNT Vĩnh Phúc dựa trên nhu cầu thực tiễn của các địa phương trong khu vực, phối hợp với Khoa âm nhạc và chuyên ngành Thanh nhạc trong việc xây dựng và thực hiện một đề án nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy thanh nhạc, trong đó có thể loại ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt trong giai đoạn hiện nay.

  •           n xây dựng và thực hiện những kế hoạch, biện pháp hợp lý nhằm thu hút các lực lượng có trình độ chuyên môn về giảng dạy tại trường.

         - Đy mạnh việc đầu tư tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của chuyên ngành Thanh nhạc.

          - Cần nhanh chóng thực hiện đề án xây dựng ở Bộ môn Thanh Nhạc - Khoa sư phạm một mô hình cần thiết và năng động cho việc giảng dạy ca khúc nghệ thuật nước ngoài lời Việt để đáp ứng với yêu cầu “chuẩn hoá” hiện nay.

Đầu trang
  
English


Các khoa, bộ môn
Khoa Piano
Khoa Dây
Khoa Kèn - Gõ
Khoa Accordion - Guitar- Organ
Khoa nhạc Jazz
Khoa Thanh nhạc
Khoa Nhạc cụ Truyền thống
Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy
Khoa Kiến thức Âm nhạc
Khoa Kiến thức Đại cương
Khoa Văn hoá

Quảng cáo
Liên hệ quảng cáo
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
77 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
ĐT: +844 3851 4969 / 3856 1842 - Fax: +844 3851 3545
Website: www.vnam.edu.vn - Email: hvan@vnam.edu.vn