Trang chủ
Kỷ niệm 60 năm thành lập Học viện ÂNQGVN
Giới thiệu
Tổ chức
Ba công khai
Hoạt động
Tuyển sinh
Đào tạo
Biểu diễn
Nghiên cứu
Thông tin nghiên cứu KH
Luận án Tiến sĩ
Luận văn Thạc sĩ
Biểu mẫu đăng ký NCKH
Mẫu đăng ký GS, PGS
Giáo trình
Hợp tác quốc tế
Liên hệ

Giảng viên
Sinh viên
Thư điện tử
Tin ảnh

Lượt truy cập: 4769885
Luận văn Thạc sĩ Thứ ba, 25/04/2017

Tác giả: Hoàng Tú Anh 
Đề tài: Phân tích ba tác phẩm cho đàn Bầu hoà tấu cùng Dàn nhạc giao hưởng
Chuyên ngành: Âm nhạc học
Mã số: 60.21.02.01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Bùi Huyền Nga
Ngày đăng: 05/10/2016

Toàn văn Luận văn

Tóm tắt Luận văn:

MỞ ĐẦU

 

1. Lý do chọn đề tài:

Đàn bầu là một trong những nhạc cụ độc đáo và tiêu biểu của người Việt nói riêng và Việt Nam nói chung. Song hành cùng quá trình phát triển của dân tộc, đàn bầu không chỉ dừng lại ở việc chơi các làn điệu nhạc cổ truyền như: Xẩm, Chèo, Ca nhạc Huế, Đờn ca tài tử… mà còn phát huy được khả năng diễn tấu của mình thông qua những bản nhạc được sáng tác theo phương pháp Tây Âu, đáp ứng nhu cầu thể hiện cuộc sống và tâm tư tình cảm của con người đương đại.

Khởi đầu cho sự biến đổi của nền âm nhạc đất nước nói chung trong việc tiếp thu tinh hoa âm nhạc Tây Âu là sự hiện diện của dòng nhạc cải cách đầu thể kỷ XX với vai trò của thể loại ca khúc. Tiếp nối những sáng tạo này, vào những năm 60 của thế kỷ XX, các sáng tác cho khí nhạc nói chung đã đua nhau ra đời, trong đó có các tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc. Nhờ sự độc đáo của cây đàn mà nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ đã đem lòng yêu mến rồi sáng tác ra những bản nhạc dành riêng cho đàn bầu độc tấu, hòa tấu. Đi đầu những sáng tác cho đàn bầu là nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát với tác phẩm Nhớ miền Nam, nhạc sĩ Hoàng Đạm với Dòng kênh trong, nhạc sĩ Huy Thục với bản Vì miền Nam được nhiều người mến mộ…Sau này, các sáng tác cho đàn bầu tăng lên đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng. Khả năng diễn tấu của đàn bầu cũng được khai thác triệt với sự tìm tòi, thể nghiệm của các nghệ sĩ chơi đàn dân tộc nói chung, đàn bầu nói riêng. Mỗi một tác phẩm mang một dáng vẻ và cảm xúc khác nhau nhưng tinh thần mà mỗi nghệ sĩ, mỗi nhạc sĩ muốn gửi gắm đến người nghe đó chính là tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về dân tộc và ẩn chứa trong cây đàn bầu là hình ảnh những con người Việt Nam giản dị, chân chất, lại vô cùng thanh tao và tràn đầy xúc cảm chân thành.

Một bước tiến cao hơn trong lĩnh vực sáng tác khí nhạc dân tộc Việt Nam là sáng tác cho nhạc cụ dân tộc hòa tấu cùng dàn nhạc giao hưởng với sự tham gia của đội ngũ các nhạc sĩ sáng tác chuyên nghiệp. Có thể coi đây là bước “giao thoa” văn hoá Đông-Tây hay sự phát triển, sáng tạo trong âm nhạc. Hòa trong dòng chảy đó, tiếng đàn bầu cũng được góp mặt trong một số tác phẩm như: Trống cơm Ru con– phóng tác trên chất liệu dân ca cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng của nhạc sỹ Nguyễn Xinh; Hồi tưởng – hoà tấu dàn dây với đàn bầu của nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân, Bình minh vùng cao – tứ tấu dàn dây, oboe, đàn bầu và đàn tranh của Dương Đức Thuỵ ;Không dừng lại ở đó, các sáng tác cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng còn được nâng lên tầm cao với các tác phẩm được viết ở thể loại độc lập như: Ouverture cho dàn nhạc giao hưởng của nhạc sĩ Trọng Bằng, Giao hưởng thơ cho dàn nhạc giao hưởng có sự tham gia của đàn bầu của nhạc sĩ Nguyễn Xinh; hay 3 tác phẩm cho đàn bầu cùng dàn nhạc giao hưởng được lựa chọn để làm luận văn…

Được sinh ra trong cái nôi của nghệ thuật truyền thống, được học đàn bầu từ bé và hiện vẫn thường xuyên chơi đàn nên tôi có những tình cảm và mối quan tâm đặc biệt đối với cây đàn cũng như các tác phẩm viết cho đàn bầu. Do vậy, tiếp nối những bài nghiên cứu trước của mình, tôi vẫn muốn chọn các tác phẩm viết cho cây đàn bầu làm đối tượng nghiên cứu.

Luận văn có tiêu đề: “Phân tích 3 tác phẩm cho đàn bầu hoà tấu cùng dàn nhạc giao hưởng”

2.Lịch sử đề tài

Như đã trình bày, đàn bầu vốn là nhạc cụ độc đáo và rất được yêu thích của Việt Nam nên đã có không ít nhạc sĩ, nghệ sĩ dành nhiều tâm huyết sáng tác cho cây đàn bầu. Cùng với đó là các công trình nghiên cứu về đàn bầu (nguồn gốc, cách cấu tạo, khả năng diễn tấu), về tác phẩm viết cho đàn bầu (bài bản cổ và tác phẩm mới), về vai trò của đàn bầu trong cuộc sống đương đại v..v… Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu như:

 -“Nghệ thuật đàn bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam” – Luận án tiến sĩ của Sun Jin – Đề cập đến sự hình thành và phát triển của nghệ thuật đàn bầu từ năm 1956 đến cuối thế kỷ XX và phân tích, hệ thống lại những đặc trưng cơ bản nhất về kỹ thuật, khả năng diễn tả âm nhạc đa dạng của đàn bầu, từ đó đổi mới tư duy nhằm thúc đẩu sự phát triển nghệ thuật đàn Bầu tại Việt Nam.

 -“Đặc điểm âm nhạc trong bốn tác phẩm giao hưởng giai đoạn 1955 – 2010 của Đỗ Hồng Quân” – Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Trang – Gồm các tác phẩm: “Mở đất”, “Tiếng vọng”, “Dáng rồng lên”, “Trổ một” trong đó tác phẩm “Mở đất” có sự tham gia của đàn bầu hoà tấu cùng dàn nhạc giao hưởng. Luận văn đề cập đến cấu trúc, chất liệu xây dựng chủ đề và đặc điểm ngôn ngữ âm nhạc của 4 tác phẩm.

 - Về phía chúng tôi đã có một số nghiên cứu về những tác phẩm dành cho đàn bầu như:

+ Tiểu luận “Tìm hiểu tác phẩm Vì miền nam viết cho đàn bầu và dàn nhạc dân tộc của nhạc sỹ Huy Thục” Bài thi học kỳ 2 năm thứ 3 Đại học– trong đó phân tích về cấu trúc và đặc điểm âm nhạc của tác phẩm.

+ Khoá luận “Tìm hiểu tác phẩm Sắc xuân viết cho đàn bầu và dàn nhạc dân tộc của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân” Bài tốt nghiệp Đại học – Trong đó phân tích về cấu trúc và đặc điểm âm nhạc của tác phẩm.

   Có thể thấy ba tác phẩm mà luận văn hướng tới là: Biển quê hương của nhạc sĩ Trần Quý, Đối thoại của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Đất mẹ của nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng hiện chưa có một công trình nào đề cập đến. Vì thế, đề tài không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đi trước về đàn bầu hay về tác phẩm viết cho đàn bầu.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

        -Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các yếu tố cấu thành tác phẩm như: Ý tưởng, nội dung các tác phẩm; Cấu trúc và việc sử dụng chất liệu dân gian trong tác phẩm; Đặc biệt là kỹ thuật diễn tấu tác phẩm mới của cây đàn bầu cùng thủ pháp phối khí cho đàn bầu và dàn nhạc giao huởng.

-Phạm vi nghiên cứu:

Số lượng tác phẩm viết cho đàn bầu hòa tấu với dàn nhạc giao huởng không chỉ dừng lại ở con số 3 nhưng luận văn chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu 3 tác phẩm tiêu biểu của 3 thế hệ nhạc sĩ là “Biển quê hương” của nhạc sĩ Trần Quý, “Đối thoại” của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân và “Đất mẹ” của nhạc sĩ  Trần Mạnh Hùng.

4. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu mà luận văn hướng tới là tìm hiểu những nét đặc sắc trong cấu trúc tác phẩm cũng như việc sử dụng chất liệu âm nhạc dân gian và nghệ thuật phối khí của 3 tác phẩm thông qua sự kết hợp giữa đàn bầu với dàn nhạc giao hưởng để thấy được giá trị nghệ thuật của 3 tác phẩm cũng như khả năng thể hiện và tính thích ứng của cây đàn trong cuộc sống đương đại.

5. Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: phân tích, diễn giải, chứng minh, tổng hợp để đưa ra kết luận.

Ngoài ra, việc kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước viết về cây đàn bầu và các tác phẩm mới khác, cũng như phương pháp chuyên gia (phỏng vấn, xin ý kiến tác giả) là việc làm cần thiết được chúng tôi đề cao để luận văn được hoàn thiện hơn.

6. Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc đưa ra những giá trị nghệ thuật của 3 tác phẩm ở các mặt: cấu trúc tác phẩm, khai thác chất liệu âm nhạc dân gian và thủ pháp phối khí. Cũng như khẳng định khả năng diễn tấu tác phẩm mới với những kỹ thuật đa dạng trên cây đàn bầu, chứng minh cho sự kết hợp âm sắc khá độc đáo giữa một nhạc cụ dân tộc với các nhạc cụ phương Tây là có thể thực hiện được.

7.Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương.

Chương 1 : Cấu trúc các tác phẩm

Chương 2:  Khai thác chất liệu âm nhạc dân gian

Chương 3: Các phương thức phối khí cho đàn bầu và dàn nhạc

 

 

Chương 1.

CẤU TRÚC TÁC PHẨM

 

 

Cấu trúc tác phẩm có ảnh hưởng không nhỏ tới mạch cảm xúc cũng như nội dung, hình tượng mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm. 

1.1. Tác phúc tác phẩm có ảnh

 Tác phẩm này được nhạc sĩ tư duy theo hình thức Sonate, gồm có ba phần: Phần trình bày, Phần phát triển và Phần tái hiện. Ngoài ra còn có Phần mở đầu và Coda. Giọng La Thứ.

- Phần mở đầu (36 nhịp) có cấu trúc độc lập được viết ở hình thức đoạn nhạc 2 câu nhắc lại, ngoài ra còn có mở đầu và kết bổ sung.

- Phần trình bày (từ nhịp 37 đến nhịp 206). Khác với hình thức sonate cổ điển, phần trình bày ở đây chỉ có 2 chủ đề, giữa 2 chủ đề không có các giai đoạn nối tiếp và không có kết phần trình bày.

Chủ đề 1 (từ nhịp 37 –> nhịp 73) được viết ở hình thức 3 đoạn đơn phát triển: a b a’.

Chủ đề 2 (nhịp 74 – nhịp 206) chuyển sang tốc độ Allegro moderato, giọng Sol Trưởng. Trước khi nào nét giai điệu của chủ đề 2 là 5 nhịp mở đầu ở dàn nhạc với âm hưởng đồng âm, đồng chồng âm cùng tiết tấu chấm dôi kết hợp với đảo phách khá hùng tráng trên điệu sol thương, đã gợi mở tính chất âm nhạc cho chủ đề 2 đậm chất dân gian.

Chủ đề 2 được viết ở hình thức 3 đoạn đơn (a b a’) tương phản.

-Phần phát triển (207 – 259) gồm có 2 giai đoạn phát triển với chất liệu âm nhạc mới để tạo tính tương phản. 

-Phần Tái hiện (260 – 362) trở về tốc độ Andante, giọng La Thứ.    

Sau 2 nhịp mở đầu, là phần tái hiện rút gọn của Chủ đề 1 từ hình thức ba đoạn đơn (aba’)

 Chủ đề 2 được đưa về điệu cùng tên với chủ đề 1 đó là La Trưởng với việc giữ nguyên bố cục 3 đoạn đơn nhưng có sự thay đổi trong nội tại như sau:

-Phần coda (từ nhịp 363 đến hết) chất liệu trữ tình đầy chất ca xướng của chủ đề 1 được vang lên đã khép lại tác phẩm “Biển quê hương”.

1.2 Tác phẩm “Đất mẹ”

   Ngoài hai phần phụ là phần Mở đầu và phần Coda, tác phẩm Đất mẹ được viết ở hình thức Ba đoạn phức dạng Trio với phần tái hiện rút gọn (ABA’) trên giọng Fa Trưởng. Tuy nhiên nét giai điệu được nhạc sĩ viết dựa trên các điệu thức ngũ cung mang âm hưởng âm nhạc dân gian Việt Nam và không kém phần phong phú.

- Phần mở đầu gồm 14 nhịp, trong đó 10 nhịp đầu do dàn nhạc thể hiện với sự tham gia của tất cả các thành phần nhạc cụ, sắc thái mạnh (f).

-Phần A (nhịp 15-nhịp 47) thuộc hình thức ba đoạn đơn phát triển (aba’).

Trước khi sang phần B là đoạn nối gồm 6 nhịp (nhịp 47 – 52), với tính chất nhẹ nhàng được dàn dây đảm nhiệm. Âm hình trì tục (âm rê) lặp đi lặp lại, đều đặn nối tiếp nhau như vòng quay của bánh xe đưa những người con rời xa quê hương đi lập nghiệp.

- Phần B (nhịp 53 –  nhịp 107) được viết ở hình thức hai đoạn đơn phát triển (ab). Chất liệu âm nhạc tương phản với phần A.

- Phần A’ được tái hiện rút gọn hình thức từ 3 đoạn đơn trở thành hình thức 2 đoạn đơn thông qua ký hiệu D.S al Coda (Quay lại từ dấu   cho đến ký hiệu – n15 - 39)

1.3. Tác phẩm “Đối thoại”:

Rất nhiều tác phẩm của nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân được sáng tác không theo các hình thức âm nhạc cổ điển mà được chia thành nhiều phần nhỏ kết hợp lại với nhau tuỳ theo nội dung, tư tưởng của tác phẩm hay mạch âm nhạc của tác giả. Tác phẩm Đối thoại cũng không ngoại lệ, với 2 phần lớn, ngoài ra còn có các thành phần phụ như: Mở đầu, nối, cadenza và coda.

Phần Mở đầu (1 – 52) được vang trên nền tảng của giọng Đô Nam gồm 3 giai đoạn.

- Phần thứ nhất (I) bắt đầu vào giọng chính của tác phẩm (giọng Đô Thứ) gồm 5 đoạn nhạc. Dựa vào chất liệu âm nhạc, chúng tôi tạm đưa ra ký hiệu biểu thị đoạn như sau: a – nối – b – c  nối – d – e.

Phần thứ hai (II) gồm 3 đoạn nhạc (abc), thay đổi về mặt tốc độ, mang tính chất vũ hội, sôi nổi.

Trước khi vào đoạn a (PII) là 5 nhịp mở đầu (254 – 258) do dàn nhạc diễn tấu, lấy chất liệu “hò hụi” Trung Bộ mang tính chất vui vẻ trên điệu Đô Xuân.

Mở đầu đoạn thứ nhất a được viết ở tốc độ Nhanh - Allegro (32nhịp: 254 – 283)  gồm mở đầu và 3 câu nhạc (xyz).

Đoạn nhạc thứ 2 – b (14 nhịp: 291 – 305) gồm có 2 câu nhạc (xy). Câu thứ nhất gồm 8 nhịp (291 – 298) là nét giai điệu của điệu “Xá thượng”.

Đoạn b được nhắc lại một lần nữa (b’),

Phần Coda bắt đầu từ nhịp 348 – hết với vai trò tổng kết các chất liệu âm nhạc ở cả phần I và II.

* Tiểu kết chương 1:

Sau khi phân tích bố cục của các tác phẩm, có thể thấy, cả 3 tác phẩm đều dựa trên cơ sơ của các hình thức đã được định hình và gọi tên từ thời kỳ âm nhạc cổ điển TK18 như: Hình thức Sonate (Biển quê hương); hình thức Ba đoạn Phức (Đất mẹ) và hình thức hai phần (Đối thoại). Tuy nhiên, các nhạc sĩ đều không tuân thủ theo quy tắc nghiêm ngặt của thời kỳ cổ điển mà sử dụng những nguyên tắc đổi mới của giai đoạn sau để phù hợp với tư duy và cảm xúc, ý tưởng sáng tác: Phần phát triển của hình thức Sonate chỉ chia 2 giai đoạn với sự xuất hiện của chất liệu mới trên cơ sở của sự phát triển âm hình của phần mở đầu (Biển quê hương); Tái hiện rút gọn (Đất mẹ); câu nhạc không cân phương, chia thành nhiều đoạn tương phản và không dùng hình thức tái hiện mà chất liệu được chủ đề được tóm lược qua phần coda (Đối thoại).

 

Chương 2. KHAI THÁC CHẤT LIỆU ÂM NHẠC DÂN GIAN

 

2.1. Phương pháp xây dựng chủ đề:

2.1.1 Chủ đề được xây dựng từ các bài dân ca.

Sử dụng bài dân ca có sẵn làm chất liệu âm nhạc là cách làm vô cùng hiệu quả trong việc đưa tác phẩm mới đến gần hơn với người dân Việt Nam.

*Sử dụng gần như nguyên dạng bài dân ca.

Rất điển hình cho phương pháp này là bài “Lý chiều chiều” đã được  sử dụng một cách trọn vẹn trong chủ đề đoạn e (phần I) của tác phẩm.

Hay, sau phần mở đầu, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã sử dụng bài Lý con ngựa (dân ca Trung Bộ) để làm câu 1 cho chủ đề đoạn a (phần I)

*Sử dụng một phần hay một nét bài dân ca, nhạc cổ.

Khác với phương pháp xây dựng chủ đề sử dụng gần như nguyên mẫu một bài dân ca chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong tác phẩm, thì phương pháp xây dựng chủ đề dựa trên một nét, một câu… của bài dân ca được nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân sử dụng đa dạng hơn.

Bài Lý kéo chài không chỉ quen thuộc với người dân Nam Bộ mà còn quá thân quen với hầu hết người Việt Nam đã được tác giả sử dụng gần 2/3 bài để tạo nên câu 2 của đoạn nhạc 3 câu (đoạn d, phần I) và do Trombe thể hiện với tính chất khoẻ khoắn, mạnh mẽ.

Phần mở đầu của tác phẩm với chức năng gợi mở, âm hưởng dân gian đã được tác giả khắc hoạ qua các motive khác nhau như: sự chuyển động của các quãng 4, quãng 5; những nét giai điệu trên thang âm điệu Oán hay, nét nhạc mở đầu của Lý ngựa ô (Nam bộ) ứng với ca từ khớp con ngựa ngựa ô. Cách khai thác này phù hợp với tính gợi mở, đặt vấn đề của tác phẩm. 

Trong phần II, để phản ánh tính chất vũ hội, vui tươi nhộn nhịp, tác giả cũng đã sử dụng phần cao trào của làn điệu Xá thượng (Cô đôi thượng ngàn) làm chủ đề cho đoạn b.

Hay, nét giai điệu Con gà rừng (nhạc Chèo) được dùng làm chất liệu cho câu 3 đoạn d (phần I).

2.1.2. Chủ đề được xây dựng từ thang âm dân tộc.

Nếu nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân vận dụng các làn điệu dân ca làm chất liệu cho chủ đề âm nhạc trong tác phẩm của mình thì nhạc sĩ Trần Quý và nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng lại xây dựng chủ đề từ các điệu thức ngũ cung.

*Xây dựng chủ đề trên 1 thang âm ngũ cung

Việc xây dựng chủ đề trên 1 thang âm đem đến cho người nghe một giai điệu mượt mà và rất gần gũi với các làn điệu dân ca. Điều này được nhạc sĩ Trần Quý khai thác nhiều trong tác phẩm Biển quê hương với chủ đề mở đầu, chủ đề 1 phần trình bày và phần tái hiện đều thống nhất ở điệu La Nam.

*Chủ đề được hình thành trên sự kết hợp của các dạng thang 5 âm

 -Kết hợp các điệu thức cùng chủ âm:

Khác với chủ đề 1 được xây dựng trên thang âm La Nam, chủ đề 2 của phần trình bày trong tác phẩm Biển quê hương được hình thành trên hai điệu thức Sol Bắc và Sol Xuân. Thành phần âm của Sol Bắc là: Sol – la – đô – rê - mi; của Sol Xuân là: Sol – la – đô – rê – fa.

Tương tự, chủ đề đoạn a của phần A tác phẩm Đất mẹ được hình thành trên hai thang âm Đô Bắc - Đô Xuân. 4 nhịp đầu tiên của chủ đề, giai điệu được xây dựng trên các âm đô – rê – fa – sol – la của điệu Đô Bắc, sau đó xuất hiện nốt Si giáng thay cho âm la, làm cho giai điệu chuyển sang màu sắc mới của điệu Đô thương (đô – rê – fa – sol – si giáng).

-Kết hợp các thang ngũ cung khác nhau (khác điệu thức, khác chủ âm):

Ở chủ đề phần B tác phẩm Đất mẹ, tác giả không những tạo sự tương phản với phần A bằng việc thay đổi tốc độ mà còn thay đổi thang âm đặc trưng của miền Bắc (Bắc - Xuân) sang điệu Oán, Nam - đặc trưng của vùng đất Nam Bộ. Nét giai điệu kết hợp từ các điệu thức Sol Nam - Sol Oán - Sol Nam, sau đó chuyển qua  Sol Bắc1 làm bước chuyển tiếp sang Rê Oán và kết thúc ở điệu Rê Oán.

 

2.1.3. Chủ đề được hình thành từ quãng, âm hình tiết tấu dân tộc

 *Sử dụng các quãng đặc trưng.

Sự kết hợp của quãng4, quãng 5 đã được nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân vận dụng khá linh hoạt theo các cách khác nhau. Ở giai đoạn 2 trong phần mở đầu của tác phẩm “Đối thoạixuất hiện một nét giai điệu hình thành từ quãng 4, quãng 5 do đàn bầu thể hiện.

Việc sử dụng quãng 4 trong việc xây dựng giai điệu đem lại những tính chất khác nhau khi được đặt vào trong những chuyển động cụ thể. Trong câu chủ đề của phần trình bày tác phẩm “Biển quê hương của tác giả Trần Quý, ông sử dụng quãng 4 ở đầu và cuối câu nhạc, bên trong câu nhạc là sự nối tiếp bình ổn quãng 3 và quãng 2 tạo nên hình ảnh con sóng nhấp nhô nhưng vẫn yên bình, phẳng lặng.

*Âm hình tiết tấu

   Tác giả Đỗ Hồng Quân đưa âm hình tiết tấu nhấn ngược của loại hình âm nhạc Chầu văn của điệu Xá thượng vào tác phẩm “Đối thoại”. Âm hình tiết tấu này xuất hiện nguyên bản ở bộ Gõ trong chủ đề của đoạn b – Phần 2 của tác phẩm, mang tính vũ hội. Và sau đó dàn dây cũng được mô phỏng tiết tấu này với chức năng đệm.

Ngay ở chủ đề mở đầu của tác phẩm “Đối thoại”, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã xây dựng một cuộc đối thoại ngay ở thành phần các nhạc cụ trong bộ gõ. Và chiếc Trống cái được sử dụng trong tác phẩm chính là đại diện cho nhạc cụ của Việt Nam, nằm ngoài biên chế dàn nhạc giao hưởng.

Sự thay đổi nhịp:

Trong các tác phẩm của mình, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân rất ưa dùng thủ pháp thay đổi nhịp. Ông sử dụng một cách liên tiếp giữa các câu, các đoạn, trong các chủ đề hoặc những phần phát triển. Tuy nhiên, trong tác phẩm “Đối thoại”, phương pháp này được ông sử dụng ít hơn so với các tác phẩm khác.  Việc thay đổi nhịp sẽ làm thay đổi điểm nhấn hay phát triển mạch âm nhạc, làm cho âm nhạc có tính ngẫu hứng. Đây cũng chính là mục đích của tác giả, được thể hiện ngay trong đoạn hội thoại của bộ Gõ - chủ đề phần Mở đầu của tác phẩm “Đối thoại”. Tác giả đã thay đổi từ nhịp 4/4 à 5/4 à 7/8 à 4/4

Có thể nói, cùng với các yếu tố khác, việc thay đổi nhịp dẫn đến yếu tố nhấn lệch trong đường nét giai điệu cũng là cách để đem hiệu quả âm nhạc đến gần với hơi thở dân tộc.

2.2.Thủ pháp phát triển chủ đề

2.2.1. Thủ pháp nhắc lại:

Thủ pháp nhắc lại thường gặp nhất là trong các chủ đề có cấu tạo dạng đoạn nhạc gồm 2 câu với lối cấu trúc nhắc lại. Trong trường hợp này, câu 2 nhắc lại câu 1 và có thay đổi đôi chút ở cuối câu để đưa về kết ổn định, tạo nên một chủ đề âm nhạc hoàn chỉnh với hình tượng âm nhạc được khắc hoạ rõ nét qua việc nhắc lại của câu 2.

Tác phẩm “Biển quê hương”, nhạc sĩ Trần Quý sử dụng thủ pháp này ở chủ đề mở đầu của tác phẩm theo kiểu nhắc lại nguyên dạng. Nét giai điệu do Fl và Ob trình diễn và sau đó được dàn dây nhắc lại gần như nguyên dạng miêu tả hình tượng mặt trời lên kéo theo những hoạt động buổi sớm của xóm chài.

Thủ pháp nhắc lại có thay đổi được sử dụng khá nhiều trong cách xây dựng và phát triển chủ đề của các tác giả bởi nó đem đến sự mới mẻ, sinh động hơn cho  chủ đề. Không chỉ củng cố trần thuật nét giai điệu chủ đề mà còn tăng cường đẩy nhanh quá trình âm nhạc đến giai đoạn mới.

Chủ đề 1 của tác phẩm “Biển quê hương” vẫn được nhạc sĩ Trần Qúy xây dựng theo phương pháp này với 2 câu nhắc lại có thay đổi. Giai điệu này được xây dựng từ hạt nhân chủ đề với tiết tấu:   xuyên suốt câu nhạc tạo nên tính đồng nhất, nhịp nhàng.

Ta cũng thấy sự tương đồng trong chủ đề đoạn a phần A và chủ đề đoạn a phần B của tác phẩm “Đất mẹ”.

Đối với tác phẩm “Đối thoại”, chủ đề a của phần I có tính đối đáp, do đó chủ đề không chỉ nằm ở giai điệu của nhạc cụ solo (đàn bầu) mà còn ở các câu đối (dàn dây). Ở câu chủ đề, dàn dây đối đáp với đàn bầu theo kiểu canon. Tuy nhiên khi nhắc lại, bộ gỗ đảm nhận giai điệu chủ đề và đàn bầu lúc này đối đáp thay vị trí của dàn dây nhưng không theo kiểu canon mà theo lối hát đế trong âm nhạc dân gian Việt Nam.

Nhắc lại với thủ pháp mô tiến chuyển điệu:

Ở tác phẩm “Đối thoại”, Chủ đề của đoạn e xuất hiện 3 lần. Ở đây có sự kết hợp của việc vừa thay đổi nhạc cụ, vừa thay đổi cao độ thông qua việc chuyển sang các điệu tính khác nhau có mối quan hệ quãng 4 đúng.. Lần thứ nhất. giai điệu “Lý chiều chiều” vang lên ở bè Cla trên điệu Rê oán. Lần thứ 2, giai điệu chủ đề được mô phỏng trên bè đàn bầu và được đưa lên cao hơn 1 quãng 4 đúng – điệu Sol oán. Và cuối cùng được dàn dây mô phỏng trên điệu Đô oán, cũng là điệu cách Sol oán 1 quãng 4 đúng. Thủ pháp này khiến cho giai điệu không những phong phú mà còn tạo được nhiều cảm xúc khác nhau thông qua việc thay đổi nhạc cụ diễn tấu ở những độ cao khác nhau.

Hay ở nét giai điệu chầu văn, để kéo dài màn vũ hội, chất liệu âm nhạc của điệu “Xá thượng – Cô đôi thượng ngàn” được mô phỏng một lần nữa, vẫn trên nhạc cụ đàn bầu nhưng về điệu thức có thay đổi từ điệu Fa cung sang Si giáng cung. (xin tham khảo tổng phổ nhịp 291 – 298 và nhịp 305 – 314)

2.2.2. Thủ pháp biến đổi âm điệu

Thủ pháp này là một trong những nguyên tắc tạo thành dạng của hình thức được dùng trong các hình thức đơn giản và phức tạp. Thủ pháp này bao gồm 2 phương thức, đó là Biến đổi chất liệu chủ đề và xuất hiện chất liệu mới, tương phản.

Biến đổi chất liệu chủ đề

Trong tác phẩm “Đất mẹ”, sau khi chủ đề chính xuất hiện ở đoạn a, sang đoạn b, âm hưởng của đoạn a được gợi nhớ lại trong nhịp đầu tiên thông qua âm hình tiết tấu và hướng di chuyển của giai điệu nhưng ngay sau đó là những biến đổi để tạo sự khác biệt, tương phản với đoạn a

Có thể thấy rằng, sự thay đổi về mặt điệu thức từ Đô Bắc (đoạn a) sang Đô Nam và Đô Thứ (đoạn b) làm cho giai điệu trở nên dạt dào, nhiều cảm xúc hơn.

Thủ pháp biến đổi âm điệu thông qua việc xuất hiện chất liệu mới tương phản có thể thấy trong phần phát triển của tác phẩm “Biển quê hương” của nhạc sĩ Trần Quý..

Sau phần trình bày với 2 chủ đề âm nhạc : chủ đề 1 với tính chất trữ tình; chủ đề 2 vui vẻ, phấn chấn đầy nhiệt huyết nhưng khi bước vào phần phát triển, để tạo sự tương phản với phần trình bày, tác giả đã đưa vào chất liệu mới trên nền tảng của hình tượng biển với nét giai điệu lượn sóng được lặp đi lặp lại chủ yếu do dàn dây và piano thực hiện. Chất liệu mới là những nét giai điệu cách bậc kết hợp với các bước đi nửa cung tạo nên sự kết hợp giữa thang 5 âm và 7 âm ở các dạng thức khác nhau để tạo sự căng thẳng, kịch tính. Thông qua việc đưa chất liệu mới kết hợp với chất liệu đã có vào phần phát triển của tác phẩm, nhạc sĩ muốn khắc hoạ công việc khai thác, chinh phục biển cả của các cư dân thật không dễ dàng gì, nhiều khi họ phải đối mặt với những cơn giận dữ của thiên nhiên, của biển cả; họ phải cùng nhau đoàn kết toả thành sức mạnh tập thể để vượt qua những khó khăn đó giành quyền sống.

 

*Tiểu kết chương 2:

Chất liệu âm nhạc dân gian thường là những nguồn cảm hứng bất tận cho các nhạc sĩ Việt Nam. Cả ba tác phẩm Biển quê hương, Đất mẹ, Đối thoại  đều được các tác giả sử dụng những nguồn chất liệu âm nhạc dân gian để xây dựng chủ đề cho tác phẩm của mình. Tuy với những cách thức khác nhau, rất đa dạng và phong phú nhưng gói gọn trong đó hoàn toàn là những nguồn chất liệu âm nhạc đặc trưng của Việt Nam.

Hai tác phẩm của nhạc sĩ Trần Quý và Trần Mạnh Hùng sử dụng thang âm ngũ cung xuyên suốt trong việc xây dựng và phát triển chủ đề. Không đơn thuần chỉ là 1 thang âm ngũ cung mà là sự kết hợp, chuyển tiếp của các điệu thức, tạo ra những giai điệu giản dị nhưng đầy màu sắc. Tác giả Đỗ Hồng Quân viết giai điệu trên các điệu ngũ cung theo cách rất quen thuộc với phong cách sáng tác của ông đó là sử dụng một đoạn hay cả một làn điệu dân ca, sử dụng những tiết tấu dân tộc, các quãng đặc trưng như quãng 4,5… Ông đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn những yếu tố đó trong tác phẩm “Đối thoại”, mang đến một tác phẩm giao hưởng đậm chất dân tộc, tạo sự thân quen với người Việt Nam nhưng lại mới mẻ, gây ấn tượng với người nước ngoài.

Chủ đề âm nhạc chính là hạt nhân để phát triển ý tưởng âm nhạc của toàn bộ tác phẩm. Và với những thủ pháp phát triển chủ đề: thủ pháp nhắc lại, biến đổi âm điệu, những ý tưởng đó được triển khai, tạo thành một tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh. Đặc biệt, các nhạc sĩ rất ưa dùng thủ pháp nhắc lại có thay đổi bởi nó có thể truyền tải được đầy đủ nội dung và làm rõ chủ đề của tác phẩm đồng thời đem đến sự mới mẻ trong đường nét giai điệu.

 

Chương 3.

CÁC PHƯƠNG THỨC PHỐI KHÍ CHO ĐÀN BẦU VÀ DÀN NHẠC

 

Sự thành công của một tác phẩm hoà tấu không thể không nhắc tới vai trò của thủ pháp phối khí. Việc sử dụng, kết hợp các nhạc cụ trong tác phẩm hoà tấu dàn nhạc rất quan trọng trong việc diễn tả hình tượng, nội dung mà tác giả muốn truyền tải. Từ thời kỳ cổ điển, thời kỳ lãng mạn cho đến nay, phong cách phối khí cũng là một trong những yếu tố  mà các nhạc sĩ tạo dấu ấn riêng cho các tác phẩm của mình, để lại những nét độc đáo, mang lại sự mới mẻ.

3.1 Thành phần dàn nhạc và vai trò các bộ trong tác phẩm

3.1.1 Thành phần dàn nhạc

Ngoài nhạc cụ solo là đàn bầu, cả ba tác phẩm đều sử dụng biên chế dàn nhạc giao hưởng 2 quản và một số nhạc cụ đặc biệt mà mỗi tác giả chọn riêng cho tác phẩm của mình. Bên cạnh đó, tác phẩm “Biển quê hương” có sự góp mặt của đàn Piano và “Đất mẹ” có sự tham gia của đàn Harp.

 

3.3.2. Vai trò các bộ

- Bộ gỗ: Điểm chung trong cả 3 tác phẩm là đều không sử dụng đến Piccolo, nhạc cụ có âm vực cao nhất trong bộ gỗ.

 Với tính chất trữ tình, mềm mại cùng sự linh hoạt, bộ gỗ hay được sử dụng để diễn tả hoặc mô phỏng đường nét giai điệu chủ đề. Ngoài ra, trong 3 tác phẩm các nhạc sĩ còn khai thác vai trò hoà âm của bộ gỗ bằng cách sử dụng 3 hoặc cả 4 loại nhạc cụ theo kiểu chồng quãng.

Các nhạc cụ Flauti, Oboi, Clarinetti đều có một âm sắc êm tai, mượt mà nên có thể diễn tấu những nét giai điệu uyển chuyển. Ví dụ như chủ đề mở đầu của tác phẩm “Biển quê hương” do Flauti và Oboi thể hiện.

Clarinet thậm chí còn được tác giả Đỗ Hồng Quân chọn để diễn tấu solo chủ đề Lý chiều chiều trên nền của Viole và Violoncelli trong đoạn e của tác phẩm “Đối thoại”.

Để góp phần tăng phần trầm và màu sắc, Fagotti cùng với Violoncelli và Contrabassi diễn tấu giai điệu chủ đề phần B trong tác phẩm “Đất mẹ”. Trong đoạn này, các nhạc cụ Fl, Ob, Cl đóng vai trò đệm hoà âm theo kiểu chồng quãng.

Ở tác phẩm “Biển quê hương” Fagotti hay được sử dụng với vai trò đệm hoà âm theo 2 kiểu. Trong chủ đề mở đầu và chủ đề 1, nhạc cụ này chơi facture đệm rải.    

- Bộ đồng: Cả 3 nhạc sĩ đều không khai thác và sử dụng triệt để bộ đồng mà chỉ sử dụng với vai trò hoà âm hay tăng cường âm lượng trong những đoạn cao trào. Mỗi nhạc sĩ lại có sự quan tâm khác nhau tới các nhạc cụ trong bộ đồng.

Hai nhạc sĩ Trần Quý và Trần Mạnh Hùng chú ý đến kèn Cor. Loại nhạc cụ này được biết đến là một loại kèn có âm chất đẹp, vừa mềm mại như tính chất của kèn gỗ, vừa cương nghị với tính chất kim loại của nhạc khí bộ đồng. Ta cũng thường thấy trong ngũ tấu kèn gõ có sự góp mặt của kèn Cor.

Ngay trong chủ đề mở đầu của “Biển quê hương” kèn Cor vừa đảm nhiệm phần solo với nét giai điệu chủ đề và 3 Cor còn lại chơi hoà âm theo kiểu chồng quãng.

Xuyên suốt tác phẩm “Biển quê hương”, kèn Cor giữ vai trò hoà âm theo kiểu chồng âm quãng 2,4,5, đôi khi có cả hợp âm 3.

Còn kèn Cor trong tác phẩm “Đất mẹ” có chút mềm mại hơn khi đóng vai trò hoà âm với hình thức đệm rải hoặc bè tòng.

Trong tác phẩm “Biển quê hương”, bộ đồng nổi bật trong phần phát triển khi đảm nhiệm nét giai điệu. Giữa những làn sóng của bộ gỗ, dây, piano và tiếng sấm sét của bộ gõ, tiếng Trombe và Tromboni vang lên những âm sắc mạnh mẽ, sắc bén, làm bật lên ý chí kiên cường chống chọi với cơn bão biển của những người ngư dân quả cảm. (Xin tham khảo phần tổng phổ nhịp 222-259)

Bộ đồng trong tác phẩm của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân được sử dụng không nhiều nhưng mỗi khi xuất hiện đều đầy đủ cả 4 nhạc cụ, thường giữ vai trò hoà âm và tăng âm trong các phần Tutti. Trong đoạn e của tác phẩm, khi bộ dây và bộ gỗ đi nét giai điệu chủ đề Lý chiều chiều thì bộ đồng lại đảm nhận toàn bộ phần hoà âm.                               (Xin tham khảo phần phụ lục số 3)

- Bộ gõ: gồm các nhạc cụ phong phú nhất trong các bộ, với khả năng diễn tấu linh hoạt, có thể đảm nhiệm cả mảng tiết tấu lẫn giai điệu. Riêng Timpani là nhạc cụ gõ định âm, có khả năng vừa giữ tiết tấu, vừa có thể có chức năng hoà âm. Đây cũng là nhạc cụ thông dụng, được sử dụng hầu hết trong các tác phẩm giao hưởng chính nhờ vào chức năng “kép” của nó. 3 tác phẩm cho đàn bầu cùng dàn nhạc cũng vậy, các nhạc sĩ đều sử dụng Timpani cho tác phẩm của mình. Vai trò của nó lúc thì có chức năng giữ nhịp, lúc lại được sử dụng để tạo cao trào, thậm chí là hỗ trợ trong việc tạo hình ảnh. Trong tác phẩm “Đất mẹ”, ngay ở phần mở đầu, Timpani tham gia với việc dồn trống từ nhỏ đến to, sắc thái f tạo nên một sự khởi đầu huy hoàng và hùng tráng.

Loại nhạc cụ thuộc biên chế bộ gõ nhưng ít dùng là Campanelli được sử dụng trong tác phẩm “Đất mẹ”. Campanelli có hai loại, dùng dùi kim loại hoặc phím đánh như piano. Âm sắc campanelli lóng lánh, thanh thót, có tính trang trí, tô điểm, tạo cảm giác trong trẻo, thanh thoát mà trong tác phẩm “Đất mẹ” tác giả đã sử dụng kết hợp nhạc cụ này diễn tả những giọt sương mong manh trong phần mở đầu.

Trong tác phẩm “Biển quê hương”, bộ gõ góp phần chủ yếu ở phần phát triển để tạo nên sự dữ dội của biển cả trong cơn giông tố. Tiếng đặc biệt do cấu tạo của những dây thép bên trong trống Tamburo tạo nên hình tượng những tia sét trên bầu trời.

Trong tác phẩm “Đối thoại”, ngay từ phần mở đầu, bộ gõ đã thể hiện tinh thần nội dung theo tiêu đề của tác phẩm bằng một cuộc đối thoại giữa các nhạc cụ gõ. Bắt đầu là các nhạc cụ  gõ không định âm gồm: Frusta, Piatti và Grand drum và 4 ô nhịp cuối có thêm sự tham gia của trống Timpani với chu kỳ 3 âm: a1 – e2 – e1.

Có thể thấy rằng bộ gõ trong 3 tác phẩm được sử dụng theo 3 cách khác nhau, nhạc sĩ Trần Quý sử dụng bộ gõ thiên về mảng tiết tấu và hỗ trợ tăng âm trong những phần Tutti hay cao trào của tác phẩm; Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng làm tăng màu sắc, hình tượng giọt sương cho tác phẩm bằng nhạc cụ Campanelli còn nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân thì luôn đề cao, khai thác khả năng bộ gõ ở mọi khía cạnh như tiết tấu, màu sắc và sử dụng bộ gõ để xây dựng chủ đề mở đầu.

- Bộ dây:  là thành phần đông đảo nhất, giữ vai trò then chốt trong biên chế dàn nhạc giao hưởng, tuy về âm sắc không có sự khác biệt lớn giữa các nhạc cụ của bộ nhưng có thể diễn tả tất cả mọi phương diện vui, buồn, da diết, nhẹ nhàng, mạnh mẽ… nhờ sự phong phú về kỹ thuật diễn tấu và khai thác về mặt âm vực. Ngoài ra thời lượng diễn tấu không bị hạn chế, khác với bộ đồng và bộ gỗ phải phụ thuộc vào hơi thổi, vì vậy bộ dây được sử dụng gần như xuyên suốt tác phẩm.

Không chỉ với vai trò tạo màu sắc, tạo hình ảnh và diễn tả cảm xúc về mặt giai điệu, bộ dây là bộ duy nhất trong dàn nhạc có thể đảm nhận toàn bộ hoà thanh mà không cần sự hỗ trợ của các nhạc cụ khác.

- Nhạc cụ bổ sung:

Trong 3 tác phẩm thì có 2 tác phẩm sử dụng nhạc cụ bổ sung, đó là đàn Piano trong “Biển quê hương” và đàn Harp trong “Đất mẹ”.

 

3.2. Vai trò cuả đàn bầu trong việc thể hiện hình tuợng và kỹ thuật diễn tấu.

 3.2.1. Đàn bầu trong việc khắc hoạ nội dung, hình tượng tác phẩm.

Đối với các tác phẩm có tiêu đề, phối khí lại càng quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, bởi nó mang tính gợi tả hình ảnh. Cùng là cây đàn bầu trong 3 tác phẩm đàn bầu hoà tấu cùng dàn nhạc, nhưng với mỗi tác phẩm đàn bầu lại diễn ta một nhân vật, hình tượng khác nhau.

* Tác phẩm “Biển quê hương”

Cây đàn bầu được tác giả Trần Quý lựa chọn để kết hợp với dàn nhạc giao hưởng khắc hoạ nội dung tư tưởng chính của tác phẩm “Biển quê hương”. Với vẻ bề ngoài mộc mạc, thô sơ nhưng âm thanh toát lên vô cùng diệu kỳ, sâu lắng, chạm đến trái tim của người nghe cũng như có thể khắc hoạ được các khía cạnh khác nhau của cảm xúc, khắc hoạ được những hình ảnh khác nhau trong cuộc sống của con người, mà ở đây là những người dân chài nhỏ bé, chăm chỉ cần mẫn, ngày ngày, họ phải bám biển, băng qua những con sóng khi lành, khi dữ để kiếm ăn nuôi sống bản thân và cả gia đình. 

* Tác phẩm “Đất mẹ”: Để giải thích cho việc tác giả sử dụng đàn bầu hoà tấu cùng dàn nhạc giao hưởng trong tác phẩm này, nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng cho biết: “Bầu có nghĩa là Bào (một trong những chất liệu chế tác nhạc cụ đặc trưng của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng). Chữ Bào này lại đồng âm với chữ bào trong từ đồng bào. Đồng bào tức là cùng sinh ra trong một cái bào thai của mẹ. Chính là nói đến tích mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, trăm trứng nở thành trăm con của dân Việt ta. Trong tác phẩm này, đàn bầu đóng vai trò hình tượng như một người mẹ, là cội nguồn sinh ra anh em các dân tộc. Ngoài ta, âm nhạc được lấy chất liệu của cả 3 vùng Bắc Trung Nam, diễn tả 2 ý nghĩa các dân tộc vùng miền đều là anh em và dù là Bắc, Trung hay Nam thì nơi đâu cũng là đất mẹ.”([1])

* Tác phẩm “Đối thoại”: Với ý tưởng tạo sự khác biệt giữa Đông và Tây được biểu hiện qua âm nhạc, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã chọn đàn bầu – nhạc cụ tiêu biểu của Việt Nam (phương Đông) và đại diện tiêu biểu cho phương Tây đó chính là dàn nhạc giao hưởng. Trong số rất nhiều nhạc cụ dân tộc của Việt Nam, ông đã chọn cây đàn bầu. Chúng tôi cho rằng đây là một sự lựa chọn rất sáng suốt của nhạc sĩ. Đối với thế giới, nhắc tới âm nhạc Việt Nam và nhạc cụ dân tộc Việt Nam, người  ta thường nhớ ngay đến cây đàn bầu, một nhạc cụ độc đáo, có nguồn gốc từ làng quê Việt xưa. Hơn nữa, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân cũng có một tình cảm đặc biệt với cây đàn bầu. Khái niệm đối thoại được hiểu với 2 ý nghĩa đó là cuộc đối thoại, giao lưu giữa nhạc cụ dân tộc và giao hưởng hay đối thoại giữa các làn điệu dân ca 3 miền Bắc – Trung – Nam của Việt Nam.

 3.2.2. Kỹ thuật diễn tấu của đàn bầu

Về cơ bản, hình dáng và cách cấu tạo  không thay đổi nhiều nhưng phần bên trong của cây đàn bầu đã được lắp thiết bị khuyếch đại âm thanh để phù hợp với không gian biểu diễn mới. Cây đàn bầu cải tiến hiện nay không còn tiếng thô xơ, dân dã, mộc mạc như đàn bầu cổ nhưng lại mượt mà hơn, phù hợp với các tiết mục biểu diễn chuyên nghiệp.

Riêng đối với tác phẩm “Đất mẹ” của nhạc sỹ Trần Mạnh Hùng, để diễn tấu đoạn b của phần B, cây đàn bầu còn được cải tiến thêm một bước nữa, đó là lắp thêm bộ ngân dài vào phần máy của đàn.

Kỹ thuật nhấn cần đàn:

Lợi thế và nét đặc biệt của cây đàn bầu là có thể luyến nốt giống như giọng người, một kỹ thuật rất ít nhạc cụ có được. Chính vì thế, tác giả thường sử dụng kỹ thuật này làm tăng độ uyển chuyển cho giai điệu. Kỹ thuật này được sử dụng đặc biệt nâng cao trong tác phẩm “Đất mẹ” của nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng.

Trong tác phẩm “Đối thoại”, tác giả Đỗ Hồng Quân đã khai thác triệt để âm vực diễn tấu của đàn bầu.

Trong tác phẩm “Đất mẹ”, đàn bầu diễn tấu một nét giai điệu chùm 8. Khi chơi chùm nốt này với chùm tiết tấu nhanh như vậy thì đòi hỏi độ nhanh nhạy và chính xác của người diễn viên trong việc nhấn nốt kết hợp với gảy nốt của tay phải.

Việc chơi các điệu thức có nhiều dấu hóa lại là một hạn chế đối với cây đàn bầu bởi dễ gây chênh phô. Tuy nhiên lại làm cho màu sắc của giai điệu trở nên mới lại và đa dạng.

Nhìn chung, trong 3 tác phẩm, cây đàn bầu được khai thác triệt để tất cả các tính năng và kỹ thuật. Tuy có những đoạn nhạc nhanh hoặc nhảy quãng xa nhưng việc sử dụng cần đàn để nhấn nốt khá thuận tay, đường nét giai điệu không quá phức tạp. Tuy nhiên cũng cần người nghệ sỹ phải luyện tập nghiêm túc để có thể diễn tả được cả phần “hồn” của tác phẩm

3.3.Sự phối hợp giữa đàn bầu với dàn nhạc:

3.3.1 Đàn bầu với bộ dây và bộ gỗ

Trong các bộ thuộc biên chế dàn nhạc và được sử dụng trong 3 tác phẩm này, bộ dây và bộ gỗ là 2 bộ có sự kết hợp khá hiệu quả với đàn bầu bởi âm sắc khá đồng nhất đều mang tính trữ tình. Ta có thể bắt gặp sự kết hợp giữa đàn bầu và bộ dây hoặc bộ gõ trên những phương diện như: đệm hoà âm cho đàn bầu hoặc đối đáp với đàn bầu hoặc song hành diễn tấu cùng đàn bầu.

Để thể hiện tính chất nhẹ nhàng, lạc quan, của chủ đề 1 trong tác phẩm Biển quê hương, Nhạc sĩ Trần Quý đã sử dụng bộ dây đi hoà âm để tô màu cho giai điệu với những kiểu hoà âm phong phú qua từng nhóm nhạc cụ của bộ dây : phần trầm do Cb đảm nhiệm; Vc và Vle đệm rải theo kiểu chiều ngang; Vni2 đệm chồng âm ; ngoài ra ở phần này có sự tham gia hỗ trợ của piano rải chồng âm tượng trưng cho sóng nước lăn tăn.

Ngược lại, trong đoạn e phần 1 của tác phẩm, tác giả đã lựa chọn dàn dây đệm cho nét giai điệu Lý chiều chiều do đàn bầu đảm nhận, kết hợp với sắc thái mp mang đến cảm xúc buồn man mác, nhẹ nhàng.

Khác với hai nhạc sĩ trên, tác giả Trần Mạnh Hùng lại có một sự kết hợp khá mới mẻ giữa các nhạc cụ của dàn dây với nhạc cụ độc tấu trong phần đặc biệt của tác phẩm. Thông thường, trong những phần cadenza thì sẽ chỉ có nhạc cụ solo diễn tấu một mình. Tuy nhiên, phần cadenza trong tác phẩm này, dàn dây lại đi nền cho đàn bầu với các nốt trì tục .

Như đã nhắc tới, với tính trữ tình và sự đa dạng của âm sắc, bộ gỗ được các tác giả khai thác, kết hợp với đàn bầu bằng những cách thức khác nhau để biểu đạt cho ý tưởng của riêng mình. Tác giả Trần Quý và tác giả Đỗ Hồng Quân đã sử dụng bộ gỗ hoán đổi vai trò với nhạc cụ độc tấu trong việc khắc hoạ lại nét giai điệu chủ đề. Cách phối khí này không chỉ thể hiện ý tưởng mà còn tạo nên một sự mới mẻ, khác lạ về mặt âm sắc trong tác phẩm.

Với tiêu đề “Đối thoại”, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân luôn đề cao tính đối đáp trong toàn bộ tác phẩm của mình và với bộ gỗ cũng không ngoại lệ. Trong cuộc trò truyện của tác phẩm “Đối thoại”, ở câu nhạc thứ 2 của đoạn a phần I, bộ gỗ bắt đầu “lên tiếng”: tác giả đã chọn Fl và Ob nhắc lại nét giai điệu chủ đề, lúc này đàn bầu cùng Fag (đồng âm cách quãng 8) chơi nét nhạc đối đáp với Fl và Ob còn Cla chơi những chồng âm quãng 2,3,4,5.

Ngoài ra, bộ dây và bộ gỗ còn được sử dụng kết hợp với đàn bầu với chức năng tăng âm trong những đoạn cao trào.

3.3.2: Đàn bầu với dàn nhạc

Với tính chất Concerto trong ba tác phẩm mà các nhạc sĩ đều hướng đến, dàn nhạc và nhạc cụ solo luôn là đôi bạn, song hành, bổ trợ lẫn nhau và không thể tách rời. Tuy nhiên do hình tượng, nội dung khác nhau mà việc kết hợp giữa dàn nhạc và nhạc cụ solo cũng có những khác biệt trong mỗi tác phẩm.

Trong tác phẩm “Biển quê hương”, tác giả không đề cao sự kết hợp giữa đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng tutti mà chú trọng đến sự kết hợp riêng từng bộ. Trong bài có 2 lần đàn bầu kết hợp với toàn bộ dàn nhạc mà đàn bầu mô tả hình tượng con người và dàn nhạc là không gian trời, biển.

Khác với nhạc sĩ Trần Quý, nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng lại có sự kết hợp khá hài hoà giữa dàn nhạc và đàn bầu. Xuyên suốt tác phẩm, dàn nhạc giao hưởng đóng vai trò không thể tách rời và luôn làm nổi bật nhạc cụ solo.

Với tác phẩm “Đối thoại”, mối liên hệ giữa đàn bầu và dàn nhạc lại càng không thể tách rời bởi tính đối đáp.

*Tiểu kết chương 3:

Ba tác phẩm với những nội dung hình tượng khác nhau, tuy có sử dụng dàn nhạc giao hưởng cơ bản và nhạc cụ solo giống nhau nhưng ở mỗi tác phẩm lại có những nhạc cụ đặc biệt mà các tác giả sử dụng để tạo hiệu quả cao nhất cho tác phẩm của mình. Tác phẩm Biển quê hương được nhạc sĩ Trần Quý sử dụng thêm Piano để miêu tả hình ảnh nước và bổ trợ về mặt hoà âm; với những tính năng giống nhau nhưng nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng không sử dụng Piano mà thay vào đó nhạc cụ Harp để làm tăng tính trữ tình, mềm mại trong tác phẩm Đất mẹ; nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân lại làm tăng tính dân tộc trong tác phẩm Đối thoại bằng chiếc trống cái đặc trưng của âm nhạc Việt Nam.

Trong ba tác phẩm, cây đàn bầu không chỉ chơi những nét giai điệu mượt mà, uyển chuyển đơn thuần mà thay vào đó là sự khai thác về những kỹ thuật diễn tấu và âm vực đàn bầu, đặc biệt trong 2 tác phẩm Đất mẹ Đối thoại. Đối với nhạc sĩ Trần Quý, ông không chú trọng đến kỹ thuật diễn tấu mà thiên về lột tả hình ảnh, tâm tư của con người thông qua âm.

 

KẾT LUẬN

Với tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc, ba nhạc sĩ thuộc ba thế hệ, với những ý tưởng riêng của mình đều đã lựa chọn cây đàn bầu – nhạc độc đáo, rất đỗi thân thương của người Việt Nam để hoà cùng âm hưởng của dàn nhạc giao hưởng. Các nhạc sĩ có chung một ý tưởng muốn đưa cây đàn bầu lên một tầm cao hơn bằng một sự kết hợp mới với dàn nhạc giao hưởng và quả thực, sự kết hợp này đã đạt được những thành công nhất định.

Tác phẩm Biển quê hương của nhạc sĩ Trần Quý là một bức tranh vẽ về biển cả, về cuộc sống lao động của người ngư dân, trong đó có cả những vất vả, cuộc chống trọi sinh tử với thiên nhiên mà người dân lao động phải đối mặt. Ông đã phác hoạ rất rõ nét không phải bằng lời kể, không phải bằng những cây cọ màu mà là những giai điệu vô cùng phong phú. Với cấu trúc tác phẩm được viết ở hình thức Sonate, ông có thể diễn tả được khung cảnh biển lúc sáng sớm ở chủ đề 1; tinh thần lạc quan của người ngư dân trước khi ra khơi ở chủ đề 2; những cơn sóng lớn bởi cơn bão dữ dội cùng sự quả cảm của con người trong phần phát triển và những tang thương mất mát sau cơn bão ở phần tái hiện.

Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng lựa chọn đàn bầu kết hợp với dàn nhạc giao hưởng để vẽ lên một bức tranh quê hương với một hình ảnh mạnh mẽ và hùng tráng. Không những thế, tinh thần tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm còn là một tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc anh em trên mọi miền đất nước. Phần tái hiện trong hình thức ba đoạn phức được tác giả sử dụng như hình ảnh những người con xa quê nay lại trở về với đất mẹ cùng với phần Coda huy hoàng tráng lệ.

Với cách viết nhiều phần, nhiều đoạn phát triển liên tục, chủ đề âm nhạc trong tác phẩm Đối thoại của tác giả Đỗ Hồng Quân xuất hiện liên tiếp với những giai điệu mới, vô cùng phong phú qua hình thức 2 phần, trong đó mỗi phần lại gồm các đoạn nhạc với những chất liệu âm nhạc hoàn toàn khác nhau dựa trên những làn điệu dân ca như: Lý ngựa ô, lý con ngựa, con gà rừng, lý kéo chài, lý chiều chiều, cô đôi thượng ngàn.

Nhìn chung, các tác giả vẫn hướng tới cách viết âm nhạc có điệu tính, hơn nữa còn mang đậm âm hưởng dân gian. Hệ thống điệu thức ngũ cung được các tác giả sử dụng triệt để trong tác phẩm. Không chỉ sử dụng duy nhất một điệu thức, giai điệu của các tác phẩm được phát triển qua nhiều điệu thức ngũ cung khác nhau khiến màu sắc giai điệu luôn mới mẻ, giàu sắc thái. Ngoài ra, việc sử dụng âm hình tiết tấu, quãng dân tộc hay lối hoà âm theo kiểu chồng quãng, bè tòng cũng góp phần truyền tải những nét đặc trưng của âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Về phần phối khí, các tác giả đã chú trọng đến phương thức hoà tấu dàn nhạc, kết hợp các nhạc cụ, các bộ phù hợp với nội dung hình ảnh của tác phẩm. Biên chế dàn nhạc giao hưởng được sử dụng trong các tác phẩm là tương đối lớn. Ngoài ra, để có thể diễn tả hình ảnh một cách rõ nét và cụ thể hơn, các tác giả lựa chọn những nhạc cụ ít dùng, nằm ngoài biên chế dàn nhạc giao hưởng

Nói riêng về “nhân vật chính”, cho dù là hoà tấu nhưng tính Concerto trong ba tác phẩm hiện lên rất rõ khi đàn bầu được các nhạc sĩ lựa chọn là nhạc cụ solo, luôn chơi những nét giai điệu chủ đề, luôn có sự đối đáp, gắn kết với từng bộ hay tutti cả dàn nhạc.

Ba nhạc sĩ thuộc ba thế hệ khác nhau nhưng đều là những nhạc sĩ tài năng, luôn tràn đầy nhiệt huyết. Các nhạc sĩ đã đóng góp khối lượng tác phẩm không nhỏ cũng như những công sức để phát triển, đưa âm nhạc Việt Nam ngày một vươn xa hơn trên con đường âm nhạc.

 
Đầu trang
  
English


Các khoa, bộ môn
Khoa Piano
Khoa Dây
Khoa Kèn - Gõ
Khoa Accordion - Guitar- Organ
Khoa nhạc Jazz
Khoa Thanh nhạc
Khoa Nhạc cụ Truyền thống
Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy
Khoa Kiến thức Âm nhạc
Khoa Kiến thức Đại cương
Khoa Văn hoá

Quảng cáo
Liên hệ quảng cáo
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
77 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
ĐT: +844 3851 4969 / 3856 1842 - Fax: +844 3851 3545
Website: www.vnam.edu.vn - Email: hvan@vnam.edu.vn