Trang chủ
Giới thiệu
Tổ chức
Ba công khai
Hoạt động
Tuyển sinh
Đào tạo
Biểu diễn
Nghiên cứu
Thông tin nghiên cứu KH
Luận án Tiến sĩ
Luận văn Thạc sĩ
Biểu mẫu đăng ký NCKH
Mẫu đăng ký GS, PGS
Giáo trình
Hợp tác quốc tế
Liên hệ

Giảng viên
Sinh viên
Thư điện tử
Tin ảnh

Lượt truy cập: 5325082
Luận văn Thạc sĩ Thứ hai, 11/12/2017

Tác giả: Nguyễn Thị Trang 
Tên Đề tài: Giảng dạy các tác phẩm mới cho Sáo trúc hệ trung cấp tại trường Cao đẳng Nghệ Thuật Hà Nội
Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy chuyên ngành âm nhạc (Sáo trúc)
Mã số: 60 21 02 02
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Xuân Tùng
Ngày đăng: 08/10/2016

Toàn văn Luận văn

Tóm tắt Luận văn: 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

            Một trong những tiêu đào tạo của chuyên ngành sáo trúc trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội là đào tạo học sinh trở thành nghệ sỹ biểu diễn sáo trúc, bởi vậy mà giáo trình giảng dạy của bộ môn không chỉ trang bị cho học sinh những kĩ thuật cơ bản, những kiến thức về âm nhạc dân gian để sau khi hoàn thành chương trình đào tạo hệ trunng cấp,các em không chỉ trở thành nhạc công tại các đơn vị biểu diễn nghệ thuật truyền thống mà còn có thể biểu diễn độc tấu để tham gia vào những hoạt động âm nhạc trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc xác định vị trí, vai trò và nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm mớitrong chương trình đào tạo là rất quan trọng bởi nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành sáo trúc hệ trung cấp trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, đồng thời nó cũng là hành trang giúp cho học sinh sau khi tốt nghiệp trung cấp sẽ có đủ khả năng học lên cao đẳng, đại học và đủ tự tin hoà nhập trong xã hội đang phát triển.

Do sự phát triển thực tiễn của đời sống âm nhạc hiện nay, sáo trúc đã không chỉ tham gia các dàn nhạc truyền thống, diễn tấu các làn điệu dân ca mà còn tham gia các dàn nhạc mới và độc tấu các tác phẩm mới, các tác phẩm nước ngoài được biên soạn cho sáo trúc. Trên cơ sở đó, có thể nói tác phẩm mới giữ một vai trò rất quan trọng trong thực tế đào tạo cũng như biểu diễn của chuyên ngành sáo trúc.Từ cây sáo trúc 6 lỗ truyền thống, trải qua quá trình phát triển nó đã được cải tiến thành sáo 10 lỗ bấm có thể chơi tác phẩm mới theo hệ thống thang 12 âm bình quân phương Tây. Đã có nhiều tác phẩm mới được sáng tác cho sáo trầm, sáo trung, sáo cao và thậm trí có những tác phẩm mới với yêu cầu có sự tham gia của cả sáo trầm. Số lượng tác phẩm mới của sáo trúc hiện nay có nhiều và phong phú về thể loại trong đó có những bài sáo độc tấu với phần đệm; sáo độc tấu, hoà tấu với dàn nhạc; sáo hoà tấu với sáo. Ngoài ra còn có cả concerto cho hai sáo hòa tấu với dàn nhạc.

Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy sáo trúc trường Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội, với nhu cầu không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm mới của bộ môn sáo trúc, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Giảng dạy các tác phẩm mới cho sáo trúc hệ trung cấp tại trường Cao đẳng Nghệ Thuật Hà Nội” làm đề tài tốt nghiệp cao học chuyên ngành Phương pháp ging dạy chuyên ngành của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo những công trình nghiên cứu về giảng dạy sáo trúc có liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình. Trong số các tài liệu mà chúng tôi đã tham khảo, có thể kể đến các bài báo và luận văn khoa học như sau:

-  Luận văn của Lê Văn Phổ: “ Một số vấn đề về nâng cao chất lượng đào tạo sáo trúc tại Nhạc viện Hà Nội – năm 2000 ”.- Luận văn của Triệu Tiến Vượng: “ Phong cách âm nhạc truyền thống trong giảng dạy sáo trúc tại Nhạc Viện Hà Nội – năm 2007”

-  Luận văn của Nguyễn Hoàng Anh:“ Âm nhạc truyền thống Huế trong giảng dậy sáo trúc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam – năm 2013 ” .

- Luận văn của Sầm Thi Ngọc Ánh:“ Dân ca Tày – Nùng – Mông trong giảng dạy sáo trúc tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc – 2014 “.

  -  Luận văn của Trần Mạnh Hùng:“  Giảng dy nhạc tài tử cho sáo trúc bậc đại học tại Học viện Âm nhạc Huế  – năm 2014 “. 

-  Luận văn của Nguyễn Quang Vịnh  “ Nhã nhạc cung đình Huế trong giảng dạy chuyên ngành sáo trúc tại trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Huếm 2014

.- Luận văn của Nguyễn Đức Thao: “ Nghiên cứu một số bài bản dân ca Jrai- Bahnar phù hợp với tính năng diễn tấu của Sáo Trúc ở 3 năm đầu bậc Trung cấp 6 năm tại Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia Việt Nam – năm 2015”.

Ngoài các luận văn đã kể trên, chúng tôi cũng đã tham khảo một số tài liệu khoa học có nội dung liên quan đến đề tài của luận văn như:

- “ Một vài suy nghĩ về việc tiếp thu, phát triển và nâng cao vốn cổ truyền qua kỹ thuật của cây sáo trúc Việt Nam” cuả Ngọc Phan, Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, số 2, 1984.

Sáo Mèo “ của Trần Quang Huy. Bài báo được đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 3, 1978.

Như vậy, qua việc tham khảo, nghiên cứu một số công trỉnh nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu xác định vai trò và vị trí của tác phẩm mới viết cho sáo trúc, đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm mới cho sáo trúc hệ trung cấp tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Do đó có thể nói, đề tài luận văn “Giảng dạy các tác phẩm mới cho sáo trúc hệ trung cấp trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội” là đề tài không bị trùng lặp với bất cứ luận văn nào đã được công bố trước đây.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả, chất lượng giảng dạy sáo trúc, chương trình, giáo trình giảng dạy nhạc cụ truyền thống bậc trung cấp trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, trình độ giáo viên, chất lượng học sinh chuyên ngành sáo trúc

Phạm vi nghiên cứu của đề tài làđội ngũ và trình độ giảng dạy của giáo viên, khả năng tiếp thu của học sinhvà các tác phẩm mới viết cho sáo trúc bậc trung cấp tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.

4. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm mới viết cho sáo trúc tại hệ trung cấp trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội để nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm mới.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình viết luận văn, để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng  các phương  pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp lý thuyết: bao gồm các phương pháp sưu tầm tư liệu, thống kê, phân loại, phân tích tổng hợp. 

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành biên soạn giáo án mẫu, dạy thực nghiệm. Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm

- Phương pháp phi thực nghiệm: Tổ chức điều tra đánh giá khách quan kết quả thực nghiệm, lấy ý kiến bộ môn đánh giá các giải pháp mà luận văn đã đề ra.

6. Những đóng góp chính của luận văn

Nếu những kết quả nghiên cứu của luận văn được công nhận, với những giải pháp mà luận văn đã đề xuất, chúng tôi hy vọngsẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm mới viết cho sáo trúc, đáp ứng được yêu cầu đào tạo của nhà trường, tạo điều kiện cho học sinh không chỉ phục vụ tốt các hoạt động biểu diễn âm nhạc mà có thể tiếp tục học tiếp ở bậc đại học.

7. Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu,kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,  luận văn gồm có  2 chương:

Chương  1: Cơ sở lý luận và thực trạng giảng dạy

Chương  2: Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy

 

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY

 

  1. Cơ sở lý luận
    1. Khái quát về các tác phẩm mới trong giáo trình hệ trung cấp

            Tác phẩm mới viết cho sáo trúc là những tác phẩm được dựa trên chất liệu dân gian nhưng sáng tác theo những thủ pháp mới, mang hơi thở hiện đại, gần gũi hơn với thời đại ngày nay. Các tác phẩm mới viết cho sáo trúc có thể chia làm 3 loại:

  • Chuyển soạn từ dân ca hoặc ca khúc.
  • Sáng tác dựa trên dân ca có thay đổi và phát triển
  • Sáng tác dựa trên âm hưởng dân ca.

            Trong số 12 bài tác phẩm mới mà chúng tôi đã nêu trên đây, có những tác phẩm mới sáng tác dựa trên các làn điệu dân ca được các nhạc sỹ thay đổi, phát triển, khai thác các khả năng thể hiện của sáo trúc chiếm tỷ lệ lớn trong số các tác phẩm mới. Những tác phẩm thuộc loại này có thể kể đến như: Mời rượu, sáng tác: Ngọc Phan, tác phẩm này được Ngọc Phan dựa trên dân ca Giang ( Cao Bằng ). Tiếng sáo bản Mèo được NSUT Ngọc Phan sáng tác dựa trên dân ca H’Mông. Trên đường chiến thắng được NSUT Đinh Thìn phát triển từ bài dân cac Nam Bộ Những tác phẩm viết cho sáo trúc được các nhạc sỹ sáng tác dựa trên âm hưởng dân gian như tác phẩm  Trăng sáng quê ta, sáng tác của Đinh Thìn. Hay sáng tác mới như Tiếng sáo người lính trẻ, sáng tác của Đức Tùy. Đặc biệt, với tác phẩm Cánh chim tự do, nghệ sỹ Tiến Vượng đã khai thác nhiều kỹ thuật độc đáo của sáo trúc để phát huy hết những khả năng thể hiện những sắc tình cảm rất đa dạng của sáo Trúc. Nhìn chung, so với các nhạc cụ dân tộc khác, sáo Trúc là một loại nhạc cụ dân tộc rất phổ cập, dễ học, được nhiều người yêu thích. Đó cũng là một trong những nguyên nhân số lượng các tác phẩm mới viết cho sáo trúc khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, do giới hạn của chương trình đào tạo, bộ môn sáo trúc hệ trung cấp chỉ tuyển chọn 12 tác phẩm để đưa vào giáo trình giảng dạy.

  1. Vai trò của tác phẩm mới trong giáo trình giảng dạy

Tác phẩm mới chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình giảng dạy sáo trúc ở bậc Trung cấp. So với việc diễn tấu các bài bản dân ca cổ truyền, vai trò về việc khai thác các tính năng kỹ thuật mới, về thể hiện âm nhạc đa dạng và tính ứng dụng trong xã hội  của sáo trúc luôn được đề cao.

- Về kỹ thuật: Trước hết, tác phẩm mới giúp cho học sinh giải quyết hoàn thiện hơn về vấn đề kỹ thuật.

- Về thể hiện âm nhạc: Bên cạnh về vấn đề bài bản, vấn đề kỹ thuật, việc giảng dạy tác phẩm mới chính là giúp cho học sinh nắm bắt được yêu cầu thể hiện âm nhạc của tác phẩm.

Với những vai trò trên của tác phẩm mới, chúng tôi thấy việc nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm mới cho sáo trúc trong chương trình đào tạo hệ Trung cấp là rất cần thiết, có tính ứng dụng và thực hành cao.

  1. Những kỹ thuật sáo trúc được sử dụng trong tác phẩm mới

            Như ta đã biết, sáo trúc cổ truyền gồm có 6 lỗ. Nhìn chung cây sáo 6 lỗ và sáo 10 lỗ đều sử dụng các kỹ thuật giống nhau, khi diễn tấu những làn điệu cổ thì tính năng của chúng như nhau, ít có sự khác biệt, nhưng nếu để diễn tấu những tác phẩm mới thì cây sáo 10 lỗ đạt độ ưu việt hơn nhiều. Cây sáo trúc 10 lỗ giúp cho người chơi có thể thổi đủ các nốt mà không bị hạn chế về ngón bấm.

Ví dụ 2: Hình ảnh minh hoạ sáo 10 lỗ bấm

Trong số các kỹ thuật trên, cả hai loại sáo 6 lỗ và 10 lỗ đều có ba kỹ thuật cơ bản để luyện tập là Hơi - Lưỡi -Ngón. Ba kỹ thuật Hơi - Lưỡi – Ngón đã được chia thành từng kỹ thuật nhỏ đưa vào giáo trình giảng dạy như:

  • Hơi - Lưỡi - Ngón  

Các yêu cầu kỹ thuật để diễn tấu tác phẩm mới là sự kết hợp giữa các kỹ thuật hơi với lưỡi, hơi với ngón và sự kết hợp cả 3 yếu tố hơi – lưỡi – ngón. Nhìn chung kỹ thuật diễn tấu sáo trúc đối với tác phẩm mới vô cùng phong phú và đa dạng bởi mỗi tác phẩm lại có những yêu cầu kỹ thuật khác nhau xong muốn diễn tấu được một tác phẩm trọn vẹn thì những yếu tố kỹ thuật của Lưỡi – Hơi – Ngón là không thể thiếu, chúng luôn được phát triển một cách đồng bộ và chặt chẽ với nhau..

1.2.Thực trạng giảng dạy

  1. Giới thiệu khái quát về Trường, Khoa và tổ bộ môn
  1. Đôi nét về Trường

Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội là một trường đào tạo nghề mang tính đặc thù cao, trường đào tạo các nghệ sĩ làm việc và hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, là đơn vị chịu trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực hoạt động văn hoá nghệ thuật chính cho Thủ đô.

  1. Về Khoa

Trong nhiều năm qua, khoa Nhạc cụ truyền thống trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội đã có những thành tích đáng kể trong công tác đào tạo cũng như đã đạt được những giải cao trong các cuộc thi, hội diễn và các kỳ liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quốc.

  1. Về tổ bộ môn

Hiện nay, giảng dạy chuyên ngành Sáo Trúc của Khoa NCTT gồm có 3 giảng viên.

- Giảng viên, NSƯT Nguyễn Ngọc Phan, tốt nghiệp Trung Cấp Trường Âm nhạc Việt Nam nay là Học viện ÂNQGVN với thâm niên giảng dạy 38 năm

- Giảng viên, NSƯT Vũ Thị Thanh Hương, tốt nghiệp hệ tại chức  Học viện ÂNQGVN với thâm niên giảng dạy 18 năm

- Giảng viên Nguyễn Thị Trang, tốt nghiệp Đại học Học viện ÂNQGVN với thâm niên giảng dạy 7 năm.

Nhìn chung, đội ngũ giảng viên của chuyên ngành sáo trúc phần lớn là những người đã có nhiều năm kinh nghiệm trong giảng dạy, yêu nghề và tâm huyết với học sinh. Tuy nhiên, về giáo trình, bộ môn biên soạn giáo trình chủ yếu dựa vào giáo trình sáo trúc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Về phương pháp giảng dạy, các thầy cô chủ yếu dạy bằng kinh nghiệm đúc rút từ bản thân và từ các thế hệ trước truyền lại nên cách truyền đạt kỹ thuật, cũng như phương pháp sư phạm chưa có sự đồng nhất trong tổ bộ môn.

  1. Về giáo trình giảng dạy tác phẩm mới

Trong giáo trình giảng dạy hệ sáu năm ở bậc trung cấp của chuyên ngành sáo trúc Trường Cao đẳng Nghệ Thuật Hà Nội, số lượng tác phẩm mới trong giáo trình với tổng cộng có 12 tác phẩm mới. Đối với sáo trúc những năm đầu do trình độ kĩ thuật còn hạn chế nên các em mới học và thi học kỳ chủ yếu là các tiểu phẩm, và các ca khúc chuyển soạn, chưa phải chơi những tác phẩm có độ dài và kỹ thuật khó.

Qua giáo trình tác phẩm mới hiện đang giảng dạy, chúng tôi thấy còn một số điểm bất cập chưa hợp lý vì vậy mà chúng tôi đã thiết kế bảng nh về kỹ thuật giữa bài tập, nhạc phong cách và tác phẩm.

Nhìn chung chương trình giảng dạy của chuyên ngành sáo trúc khoa Âm nhạc truyền thống Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội tuy đã được sắp xếp ổn định nhiều năm nhưng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, chưa có sự thống nhất chung trong bộ môn/.

  1. Về phương pháp giảng dạy

Khác với việc dạy bằng phương pháp truyền ngón, truyền khẩu đối với nhạc cổ, khi giảng dạy về tác phẩm mới cả giảng viên và học sinh trước hết phải dạy và học trên bản phổ theo ký hiệu của phương Tây. Việc giảng dạy một tác phẩm mới thường diễn ra trong khoảng từ 3 đến 4 tiết tùy thuộc vào tác phẩm học và khả năng tiếp thu của học sinh.

Nhìn chung, phương pháp giảng dạy của các giáo viên trong bộ môn không thống nhất. Mặc dù được học trên bản phổ nhưng phương pháp dạy vẫn mang tính chất truyền ngón, truyền khẩu khiến cho học sinh chỉ nắm được những gì có trong bản nhạc, được học làm sao để có thể đánh đúng nhịp. Học sinh sẽ chơi những tác phẩm mới một cách máy móc, thụ động. Giáo viên chưa sử dụng phương pháp khơi dạy sự chủ động trong học tập nên thiếu đi sự sáng tạo của học sinh và như vậy giống như chúng ta dạy những người thợ đánh đàn mà không phải là dạy tư duy, kỹ năng diễn tấu cho những nghệ sĩ trong tương lai. 

  1. Về chất lượng học sinh

- Về chất lượng tuyển sinh

Khi xem xét, đánh giá về chất lượng học sinh thì chất lượng của công tác tuyển sinh là điều kiện quan trong nhất, quyết định đến hiệu quả đào tạo.

Trường cũng đã có những chính sách khuyến khích nhằm mở rộng quy mô đào tạo, không chỉ thu hút những học sinh ở thủ đô mà còn mở rộng khu vực tuyển sinh sang các vùng lân cận với mục đích bổ sung thêm học sinh, tuy vậy số lượng học sinh ngày càng giảm dần. Để nhằm thu hút học sinh, nhà trường khi tuyển sinh đầu vào chỉ kiểm tra phần năng khiếu âm nhạc: thẩm âm tiết tấu, bỏ qua phần dự thi bắt buộc của chuyên ngành mà thí sinh đăng kí dự thi. Bởi thế mà chất lượng học sinh đầu vào có sự chênh nhau về trình độ vì có em khi thi vào đã chơi sáo rất tốt và ngược lại có em lại chỉ biết thổi cho kêu…

- Về phương pháp học:

Do chất lượng tuyển sinh đầu vào không đồng đều và kiến thức âm nhạc dân gian vùng miền bị thiếu hụt. Phương pháp dạy của các Thầy còn cứng nhắc dẫn đến khi thi, học sinh chỉ thổi đúng nốt và đúng nhịp phách, không chú ý về xử lý tác phẩm, vì vậy mà điểm thi chỉ được điểm đạt. Qua khảo sát chấm thi 5 năm gần đây với tổng số mỗi năm là 20 học sinh, theo số liệu của Phòng Đào Tạo cung cấp mà tôi là giáo viên trực tiếp chấm thi thì tỉ lệ học sinh đánh đúng nốt, đúng cao độ là 80% khoảng 16 em. Tốc độ thì mỗi bạn lại thổi một kiểu, không thống nhất và tỉ lệ là 60%.

 

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

 

Nội dung trong chương 1 đã trình bày khái quát về các tác phẩm mới viết cho sáo trúc nói chung và các tác phẩm mới được sử dụng trong giáo trình giảng dạy sáo trúc hệ Trung cấp Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Những kỹ thuật sáo trúc được sử dụng trong các tác phẩm mới cũng được chúng tôi đề cập đến để làm cơ sở cho những vấn đề liên quan đến giảng dạy các tác phẩm mới.

Tác phẩm mới chiếm một vị trí rất quan trọng trong chương trình đào tạo sáo Trúc hệ Trung cấp. Nó giúp các em hoàn thiện hơn về kỹ thuật và bước đầu làm quen tạo dựng phong cách biểu diễn riêng cho mình. Hơn nữa, tác phẩm mới là phần dự thi bắt buộc sau mỗi học kì và cả lúc tốt nghiệp. Trong điều kiện thực tế hiện nay, sau khi tốt nghiệp chủ yếu các em biểu diễn tác phẩm mới, ít khi biểu diễn nhạc cổ. Tác phẩm mới viết cho sáo Trúc cũng đã có chỗ đứng trong đời sống hằng ngày, là nhịp cầu nối nhạc cụ dân tộc nói chung và cây sáo Trúc nói riêng với giới trẻ và công chúng.

Giáo trình đào tạo sáo Trúc Trung cấp tại bộ môn hiện đang còn tồn tại một số bất cập. Phương pháp giảng dạy của giáo viên còn đang cứng nhắc, ít chú trọng đến việc thể hiện nghệ thuật trong tác phẩm. Trình độ của học sinh còn bị khập khiễng, không đồng đều dẫn đến tiếp thu của các em chưa cao. Tiếp đến, do các em chỉ được tiếp xúc thường xuyên với nhạc mới nên dòng âm nhạc dân gian với các em rất mơ hồ và thậm chí là không biết do đó dẫn đến việc thể hiện âm nhạc của tác phẩm còn nhiều hạn chế.

Để có cơ sở thực tiễn thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, chương 1 cũng đã nêu lên thực trạng giảng dạy sáo trúc của bộ môn sáo trúc, về đội ngũ gáo viên, chất lượng tuyển sinh. Chất lượng tuyển sinh là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo trong toàn khóa học.

 

CHƯƠNG 2

 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

 GIẢNG DẠY TÁC PHẨM MỚI

 

2.1. Các giải pháp chính

2.1.1. Bổ sungvà sắp xếp lại giáo trình ging dạy.

- Tiêu chí lựa chọn bài:

Các tác phẩm mới phải được sắp xếp theo tiêu chí sau:

- Các tác phẩm mới trong giáo trình phải có mức độ tăng dần từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó về mặt kỹ thuật.

-  Tác phẩm mới trong chương trình phải luôn phong phú và đa dạng, không quá khó và cũng không quá dễ để làm sao phù hợp với khả năng của từng học sinh.

- Với những tác phẩm đòi hỏi xử lý sắc thái, tính chất âm nhạc thì cần cho học sinh làm quen dần với cách diễn tấu từ dễ đến khó.

- Tác phẩm mới phải phù hợp với nhạc phong cách trong từng năm học và phải có sự liên kết, gối đầu cho những năm học tiếp theo.

- Giáo trình phải luôn cập nhật xu hướng mới, hơi thở mới của nghệ thuật theo nhu cầu đi lên của người thưởng thức và của xã hội. Như vậy sau khi tốt nghiệp học sinh mới có thể đáp ứng được yêu cầu của chương trình học cao đẳng, đại học hay các hoạt động biểu diễn nơi mình sẽ tham gia công tác.

- Điều chnh, sắp xếp lại giáo trình:

Trong chương 1, chúng tôi đã nêu chi tiết giáo trình giảng dạy chuyên ngành sáo trúc cho từng năm của bộ môn. Chính vì vậy, chúng tôi đã đề xuất sắp xếp lại các tác phẩm trong từng năm học cho có hệ thống và hợp lý, từ bài dễ đến bài khó và bổ sung thêm một số tác phẩm  phù hợp với những tiêu chí đã xác định để làm phong phú thêm mảng tác phẩm mới trong giáo trình.

Dưới đây là dự kiến giáo trình mới sau khi đã được bổ sung và sắp xếp:

            Nhìn chung, giáo trình mới không thay đổi nhiều về số lượng tác phẩm sới giáo trình cũ. Giáo trình mới lược bớt những bài thuộc lứa tuổi nhquá nhỏ, không còn phù hợp với tâm lý của học sinh cuối tiểu học như các tác phẩm chuyển thể: Múa vui, Đội kèn hơi…. Những tác phẩm được bổ sung là những bài có độ khó hơn, tính chất âm nhạc phong phú hơn, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh như: Việt Nam quê hương tôi, Quê em miền trung du, Quảng Bình quê ta ơi,  Câu hò bên bến Hiền Lương

2.1.2. Nâng cao yêu cầu giảng dạy kỹ thuật cho từng năm học

Trong đào tạo biểu diễn nhạc cụ truyền thống, đối với học sinh mới học, việc chú trọng giảng dạy kỹ thuật là một yêu cầu bắt buộc đối với quá trình đào tạo diễn viên nhạc cụ truyền thống. Bởi vậy, một trong những giải pháp quan trọng nhất để có thể nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm mới cũng chính là phải nâng cao được chất lượng giảng dạy kỹ thuật cho từng năm học, từ năm thứ nhất cho đến năm thứ 6 của hệ trung cấp 6 năm.

Năm thứ nhất chúng tôi bổ sung thêm một số bài ca khúc như: Việt Nam quê hương tôi, Nhạc rừng, Quê em miền trung duđể học sinh được thực hành mở một số ngón thăng và giáng trong sáo 10 lỗ bấm, giúp các em giải quyết kỹ thuật của các ngón phụ khi chơi những tác phẩm mới cần sự linh hoạt của các ngón tay ở những năm tiếp theo.

Năm thứ hai,với yêu cầu học sinh cần phải chơi được những ca khúc chuyển soạn, kỹ thuật khó hơn so với năm thứ nhất, trong khi đó nội dung bài ở chương trình cũ cũng chỉ có tính ngang bằng với năm trước đó cũng là điều không được hợp lý. Do đó chúng tôi đã bổ sung thêm một số các bài như: Bài ca hy vọng, Rừng xanh vang tiếng Ta lư, Bóng cây Kơ-nia, Xuân chiến khu, Tình ca Tây Bắc, Quảng Bình quê ta ơi, Câu hò bên bến Hiền Lương,một mặt để học sinh thực hành diễn tấu trên sáo 10 lỗ thành thạo, mặt khác để nâng cao về trình độ kỹ thuật cho các em.

Từ năm thứ ba đến năm thứ sáu học sinh mới chính thức được làm quen và chơi những tác phẩm mới có độ khó về kỹ thuật và là những tác phẩm mới được biên soạn có cấu trúc hoàn chỉnh.

Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên thì số lượng các tác phẩm trong giáo trình đang được sử dụng còn thiếu.Trong quá trình trực tiếp giảng dạy, tôi thấy một số tác phẩm có kỹ thuật phù hợp với trình độ trung cấp có thể giúp học sinh giải quyết được vấn đề kỹ thuật và bước đầu hình thành tư duy trong xử lý tác phẩm.Vì vậy, bên cạnh việc điều chỉnh, sắp xếp lại giáo trình thì chúng tôi đã bổ sung một số tác phẩm với mục đích vừa làm cho giáo trình giảng dạy đa dạng, đồng thời giúp cho học sinh có thêm sự hào hứng vì có thêm sự lựa chọn các tác phẩm trong mỗi kỳ thi.

Nhìn bảng tác phẩm trong giáo trình, chúng ta thấy được số lượng các tác phẩm của từng năm trong chương trình cũ không được đồng đều có năm thì ít có năm lại nhiều và chưa có sự đa dạng. Bởi vậy chúng tôi sẽ có sự điều chỉnh để phù hợp với nội dung trong chương trình mới cũng như để góp phần làm phong phú hơn cho giáo trình giảng dạy tác phẩm mới. Trong giáo trình Năm thứ ba, bên cạnh những ca khúc chuyển soạn phát triển thì các em ccòn được làm quen với tác phẩm thực sự các tác phẩm mới ở mức đơn giản, không quá khó. Chúng tôi bổ sung thêm bài vào trong chương trình. Trong giáo trình cũ, năm thứ năm, chúng tôi thấy rằng bài Tiếng sáo gọi người yêu có chất liệu dân ca miền núi phía Bắc được chơi với tốc độ nhịp vừa phải và tác phẩm này có phần kỹ thuật ở mức độ trung bình sẽ phù hợp với trình độ của năm thứ ba hơn là năm thứ năm.

Với sự bổ sung và sắp xếp lại giáo trình, để đáp ứng được chất lượng đào tạo, việc nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ thuật cho từng năm học là một yêu cầu cần thiết.

Các tác phẩm mà chúng tôi bổ sung trong các năm học có một số kỹ thuật mà học sinh phải được nắm vững và rất cần đến sự quan tâm trong giảng dạy của giáo viên.:

  • Kỹ thuật hơi kết hợp với các ngón vỗ
  • Kỹ thuật ngón vuốt lên – xuống
  • Kỹ thuật lưỡi kép quãng 2, quãng 3

Kỹ thuật đánh lưỡi kép một kỹ thuật khó, được sử dụng rất phổ biến và đóng một vai trò quan trọng các tác phẩm mới. Kỹ thuật đánh lưỡi kép yêu cầu người thổi phải đánh lưỡi làm sao để nốt nhạc vang lên phải rõ nét, không bị mờ, bị mất nốt. Kỹ thuật đánh lưỡi kép đòi hỏi không chỉ sự linh hoạt của lưỡi mà còn  sự linh hoạt của ngón tay và sự kết hợp giữa ngón tay và lưỡi.

Giáo trình năm thứ tư do số lượng tác phẩm của năm học này còn ít nên chúng tôi  bổ sung một số tác phẩm có trình độ kỹ thuật phù hợp với năm học này với mục tiêutập trung vào giải quyết kỹ thuật, hình thành tư duy cảm thụ âm nhạc trong tác phẩm.

Các tác phẩm mới trong năm thứ tư cũng được sắp xếp theo mức độ từ đơn giản đến phức tạp giúp học sinh nắm bắt bài học một cách dễ dàng hơn, vừa để các em hoàn thiện về kỹ thuật, vừa cho các em học cách cảm thụ âm nhạc để diễn tấu đoạn nhạc tự do của tác phẩm.Chúng tôi điều chỉnh và bổ sung 4 tác phẩm mới vào giáo trình năm thứ tư nhưsau:

  • Bình minh quê hương                     Đức Liên
  • Gọi trăng                                         Ngọc Phan

Tác phẩmBình minh quê hương của nghệ sĩ Đức Liên lấy chất liệu của vùng núi phía Bắc, tính chất âm nhạc nhẹ nhàng, tha thiết, diễn tả cảnh đẹp của vùng quê vào buổi sớm bình minh.

Những ô nhịp đầu của tác phẩm với tốc độ chậm vừa và tha thiết thì kỹ thuật được sử dụng cho đoạn nhạc này là rung hơi từ chậm đến nhanh ở các nốt ngân dài sau đó sử dụng kỹ thuật luyến hơi và ngón, kết hợp đóng mở các ngón giữa tay phải và tay trái nhẹ nhàng góp phần làm cho giai điệu mềm mại tha thiết.

Với tiết tấu đảo phách, ngoài việc học sinh phải đánh lưỡi nhấn vào tiết tấu đảo phách thì gặp ký hiệu “> ” trên mỗi nốt nhạc yêu cầu học sinh phải đẩy hơi đánh lưỡi mạnh và kéo dài hơi đến hết trường độ của nốt nhạc đó. Trong sáo trúc,  ký hiệu trên được gọi là kỹ thuật đánh lưỡi dằn tiếng.

Tác phẩm Gọi trăng của tác giả Ngọc Phan được sáng tác cho sáo (sáo D ) diễn tấu có phần mở đầu chậm, giai điệu nhẹ nhàng trong sáng. Ở trong giáo trình cũ thì tác phẩm được học ở năm thứ năm nhưng chúng tôi điều chỉnh ở chương trình mới để các em được học ở năm thứ tư bởi Gọi Trăng là một tác phẩm không chỉ có độ khó về kỹ thuật mà còn khó về phong cách. Đây là tác phẩm được tác giả lấy chất liệu từ chèo nên tác phẩm phù hợp với nhạc phong cách Chèo mà các em đang học.

Học sinh cần đẩy hơi từ nhỏ lên to và rung hơi nhanh dần. Yêu cầu giữ được cột hơi chắc khoẻ để tiếng sáo không bị tụt đối với những nốt cần ngân dài.

Trong thí dụ trên cần nhấn mạnh vào tiết tấu đảo phách và sử dụng kỹ thuật đánh dằn tiếng của lưỡi.

Học sinh sử dụng lưỡi kép để đánh gấp đôi các nốt nhạc lên. Tiết tấu được viết ở chùm bốn với tốc độ nhanh. Ở đoạn nhạc này học sinh cần lưu ý lưỡi kép đánh đều, nhấn mạnh vào đầu phách. Học sinh thường đánh lưỡi kép không đều, còn mất nốt và nhịp không chắc chắn, lúc nhanh lúc chậm. Bởi vậy, yêu cầu tập từ chậm cho thật nhuần nhuyễn giữa lưỡi kép và các ngón bấm sau đó mới tăng dần tốc độ đạt được đúng yêu cầu của bài.

  • Kỹ thuật rung lưỡi

Kỹ thuật rung lưỡi các em đã được học từ năm thứ hai, Để có thể rung lưỡi được thì các em phải tập rung lưỡi với xuất phát điểm từ chữ “ R” sau đó mới thực hành trên sáo. Với câu nhạc dài cần rung lưỡi này việc đầu tiên học sinh cần phải lấy một hơi thật sâu, sau đó sử dụng kỹ thuật liền tiếng ( legato ) với kỹ thuật rung lưỡi. Các em phải luyện tập để lưỡi rung đều, không bị sạn và có đủ hơi.

Ngoài ra tác phẩm còn có cadenza với 13 ô nhịp tự do, học sinh sẽ phải xử lý đoạn nhạc với những ô nhịp có sẵn theo sự hướng dẫn của thầy cô, sau đó học cách diễn tấu theo hơi thở của bài với những câu xử lý từ chậm đến nhanh, rồi từ nhanh đến chậm, phù hợp với khả năng của từng học sinh. Một mặt giúp học sinh có học lực trung bình vẫn có thể theo kịp và hoàn thành yêu cầu của bài học, mặt khác những học sinh giỏi vẫn có thể nâng cao kỹ thuật của mình thông qua những tác phẩm khó hơn.

Trong giáo trình năm thứ năm, với các tác phẩm mới của năm học này, chúng tôi đã điều chỉnh một số tác phẩm phù hợp với trình độ của học sinh trung cấp năm thứ ba như:Bổ xung một số tác phẩm với những chất liệu vùng miền và chất liệu mới được diễn tấu bằng các loại sáo khác nhau.Một mặt để các em có thể sử dụng nhiều loại sáo để diễn tấu, mặt khác giúp học sinhcảm thụ âm nhạc dần hình thành tư duy xử lý tác phẩm cho học sinh.

Giáo trình mới năm thứ năm với mục tiêu cụ thể là tập trung giải quyết vấn đề về nhạc cảm, định hình phong cách biểu diễn cho học sinh trên nền tảng kỹ thuật đã tương đối vững vàng. Chúng tôi bổ xung thêm hai tác phẩm như sau:

  • Xuân về bản Mèo            Tiến Vượng
  • Cánh chim tự do               Tiến Vượng

Tác phẩm Xuân về bản Mèo của NSUT Tiến Vượng được sáng tác dựa trên chất liệu âm nhạc của người H’Mông ở vùng núi phía Bắc và được diễn tấu bằng sáo Mèo là một loại nhạc cụ dân gian của tộc người này. Loại sáo này có một đặc điểm khác với các loại sáo ngang là ở lỗ thổi của sáo được gắn một lưỡi lam bằng đồng ( hay còn gọi là lưỡi gà của sáo ) và người thổi phải ngậm cả miệng vào lỗ thổi. Khi thổi thì âm thanh của nó phát ra không được trong như sáo ngang bình thường mà nó dè dè do sự rung lên của lưỡi gà, do vậy, trước khi học tác phẩm này, học sinh cần được giáo viên hướng dẫn một số kỹ thuật về hơi, ngón vuốt và lưỡi đơn của sáo Mèo. Trong tác phẩm có một số kỹ thuật sau:

Kỹ thuật về hơi và ngón

Trong giai điệu đầu bài của tác phẩm này là đoạn tự do miêu tả không khí buổi sáng của mùa xuân đang đánh thức mọi cảnh vật của bản Mèo thuộc vùng núi Tây Bắc. Bởi vậy, tuỳ vào thể trạng và sự cảm thụ về âm nhạc của từng học sinh mà giảng viên sẽ có sự xử lý về hơi và ngón theo tình cảm khác nhau nhưng cùng chung một tư tưởng góp phần diễn tả cho người thưởng thức không khí mùa xuân đang đánh thức cảnh sắc ở một bản làng Tây Bắc.

  • Kỹ thuật hơi và các ngón vuốt
  • Kỹ thuật lưỡi đơn

Các tác phẩm mà luận văn bổ sung vào chương trình của năm học này như Xuân về bản Mèo Cánh chim tự do đã giúp cho học sinh nâng cao khả năng cảm thụ được tác phẩm, khuyến khích học sinh có sự tư duy,sáng tạo trong những đoạn nhạc tự do trong mỗi tác phẩm, hình thành tư duy xử lý tác phẩm sau này.

Năm thứ sáu là năm cuối nên các tác phẩm trong chương trình phải đảm bảo tiêu chí hoàn thiện tất cả các kỹ thuật đã học và định hình phong cách diễn tấu tác phẩm để học sinh vững vàng báo cáo chương trình tốt nghiệp, tự tin với vốn kiến thức học tiếp chương trình Cao đẳng và Đại học.

Do chỉ có một học kỳ để rèn luyện thêm về kỹ thuật và phong cách thể hiện tác phẩm, trong chương trình cũ với số lượng tác phẩm hơi nhiều và cũng khá nặng nên tôi đã chuyển tác phẩm Cánh chim tự do xuống năm thứ năm vừa để cân đối chương trình học vừa mong muốn học sinh phát huy sự tư duy của các em trong sáng tạo nghệ thuật. Ba tác phẩm  Tiếng sáo bản Mông của Ngọc Phan, Ngày hội non sông – Ngọc Phan, Trăng sáng quê ta – Đinh Thìn tôi giữ nguyên trong chương trình vì ba tác phẩm này có cấu trúc dài và yêu cầu xử lý kỹ thuật cao giúp học sinh hoàn thiện tư duy sáng tạo và kỹ năng biểu diễn.

Để học sinh tiếp thu bài một cách hiệu quả của nội dung giáo trình mới thì yêu cầu về kỹ thuật từng năm học của học sinh trung cấp được chúng tôi hệ thống lại như sau :

Thông qua việc điều chỉnh một số kỹ thuật của từng năm học cho hợp lý hơn như năm thứ nhất học sinh sẽ học cách lấy hơi, đẩy hơi để thổi âm chuẩn và bấm mở các ngón trên sáo 10 lỗ bấm.Khi học sinh thi vào trường có nghĩa là các em sẽ học những kỹ thuật chuyên nghiệp, không chỉ diễn tấu những bài bản cổ mà còn  cả những tác phẩm quốc tế. Về tính năng nhạc cụ, sáo 10 lỗ đáp ứng được yêu cầu này. Luận văn cũng đã điều chỉnh một số kỹ thuật chưa phù hợp của năm này như kỹ thuật Láy ngắn, Ngón lướt  là hai kỹ thuật khó với năm thứ nhất, các em chưa có khả năng thực hiện được do đó đã điều chỉnh đưa lên năm thứ hai.

Năm thứ hai ở giáo trình mới khi học sinh đã sử dụng tương đối thành thạo các ngón bấm mở trên sáo 10 lỗ thì sẽ cho học sinh đi vào học lưỡi kép và một số các kỹ thuật về ngón. Ở chương trình cũ, đến năm thứ 2 các em mới bắt đầu được làm quen với sáo 10 lỗ bấm, việc này sẽ khiến các em bị chậm, bị hạn chế trong việc chơi những bài có sử dụng đến kỹ thuật bấm mở của 10 ngón bấm.

Qua giải pháp điều chỉnh và bổ sung của chúng tôi vào trong giáo trình từng năm học kết hợp với giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ thuật cho từng năm học, chúng tôi nhận thấy chúng đã có tính hệ thống đi từ dễ đến khó, phù hợp với mục tiêu giảng dạy cụ thể từng năm học và toàn khóa học, phù hợp với quá trình tiếp thu của học sinh.

2.2.  Các giải pháp hỗ trợ:

2.2.1. Dạy sáo 10 lỗ bấm ngay từ năm thứ nhất:

Căn cứ theo công trình nghiên cứu của nghệ sỹ, nhà giáo, nhà nghiên cứu Ngọc Phan qua bài viết “ Một vài suy nghĩ về việc tiếp thu, phát ăng trình ng côheon cứ triển và nâng cao vốn cổ truyền qua kỹ thuật của cây sáo trúc Việt Nam” , Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, số 2 – 1984 [10], từ cây sáo cổ có 6 lỗ, vào những năm kháng chiến chống Pháp ( trước năm 1954 ) cho đến những năm trước năm 1960, sáo 6 lỗ đã dần dần được cải tiến thành sáo 10 lỗ và ít nhất, “ từ 1980 trở đi, sáo 10 lỗ mới được giảng dạy trong hệ nhạc cổ truyền chính quy và được phổ biến ở các đoàn chuyên nghiệp, ở các đội nhạc không chuyên “ [10, 4].

 Cũng theo Ngọc Phan, sáo 10 lỗ tận dụng 10 ngón tay và có khả năng dễ dàng để thổi được đủ các nốt, kể cả các nốt thăng, giáng, có cao độ khá chuẩn xác

Hiện nay, trong giáo trình đang được sử dụng tại bộ môn sáo trúc hệ trung cấp,thì năm học đầu tiên, các em chỉ được học sáo 6 lỗ bấm và như vậy thì bốn ngón còn lại của hai bàn tay vẫn chưa được sử dụng. Trong khi đó để chơi được những tác phẩm mới của sáo trúc thì thường phải sử dụng cả mười ngón bấm. Các tác phẩm viết cho sáo trúc có nhiều dấu thăng, dấu giáng bất thường liên tục. Các em sẽ phải sử dụng cả mười đầu ngón tay tương ứng với mười lỗ bấm trên sáo mới có thể đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật của tácphẩm. Tuy nhiên cả một năm học đầu tiên các em chỉ sử dụng sáo 6 lỗ sẽ dẫn đến những lỗi về kỹ thuật ngón bấm do đóng mở các ngón phụ không được linh hoạt. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy rằng khi học về mảng tác phẩm mới, học sinh thường bị hạn chế và kém linh hoạt của những ngón bấm này do không được học ngay từ năm đầu. Chính vì vậy mà trong chương 2, tôi đã đề xuất điều chỉnh chương trình của năm thứ nhất học sinh đã phải làm quen và sử dụng sáo 10 lỗ bấm để các ngón tay các em được linh hoạt và khi được học tác phẩm các em sẽ không còn bị gặp những vấn đề về sử dụng ngón thăng và giáng nữa.

Trên thực tế, trong những năm gần đây, bộ môn cũng đã thử nghiệm việc cho học sinh năm thứ nhất học sáo 10 lỗ ngay từ đầu. Kết quả là các em đều dễ dàng tiếp thu kỹ thuật sử dụng 10 ngón để vận dụng vào học các bài kỹ thuật và tác phẩm.Tuy nhiên, giải pháp này chưa được bộ môn và khoa chính thức đưa vào quy định trong chương trình đào tạo, dẫn đến việc học sáo 10 lỗ ngay từ năm thứ nhất vẫn chưa được trở thành quy định chính thức.

2.2.2.Thống nht các chỉ dẫn diễn tấu ghi trong tác phẩm mới

Để khắc phục những vấn đề còn hạn chế trong quá trình giảng dạy, ảnh hưởng đến hiệu quảđào tạo, đồng thời từng bước thông nhất các yêu cầu về kỹ thuật, xử lý tác phẩm khi thực hiện giáo trình cũng như để giúp học sinh chủ động trong học tập các tác phẩm mới, chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau:

Hiện nay, phần lớn các tác giả khi chuyển soạn hoặc sáng tác không  chú ý đến việc ghi các chỉ dẫn yêu cầu về tốc độ, sắc thái của cả bài cũng như của từng đoạn nhạc, câu nhạc. Bên cạnh đó vẫn còn một vài các ký hiệu chỉ dẫn âm nhạc ghi trong tác phẩm mới chưa được thống nhấttrong bộ môn nên đã dẫn tới việc các giáo viên dạy mỗi người một kiểu theo khả năng và dựa vàokinh nghiệm của mỗi người. Cùng một đoạn nhạc giáo viên A dạy thế này, giáo viên B dạy thế kia. Trong một trường, cùng trong bộ môn sáo trúc, các giáo viên đã mỗi người dạymột kiểu.

Với đoạn nhạc trên, vì không được tác giả ghi rõ các chỉ dẫn nên dẫn tới giáo viên A sẽ dạy cho học sinh thổi theo tinh thần ghi ở đầu bài (Nhanh vui – sôi nổi ), còn giáo viên B thì lại dạy học sinh cứ đến nốt ngân dài thì sử dụng kỹ thuật rung hơi hoặc kỹ thuật láy dài (trile ).

Vậy qua thực tiễn giảng dạy tôi đề xuất việc ghi cụ thể các chỉ dẫn không chỉ về tốc độ, sắc thái cho tác phẩm, cho từng đoạn nhạc mà còn cả chỉ dẫn các yêu cầu về kỹ thuật như rung hơi, láy,đánh lưỡi đơn, đánh lưỡi kép…

Bên cạnh đó, có những ký hiệu âm nhạc khi giống nhau nhưng trong bộ môn chuyên ngành chưa có cách hiểu thống nhất và chưa được quy định thành văn bản, trong bộ môn nên giáo viên lại truyền đạt cho học sinh theo cách hiểu riêng của mình.

Với ký hiệu này được đặt ở trên đầu nốt son thì giáo viên nào cũng hiểu nốt son này cần được sử dụng kỹ thuật láy dài (trile). Có điểm giống nhau là chắc chắn rằng các giáo viên sẽ không thể bắt học sinh láy đủ cả 4 phách vì còn phải lấy hơi để vào câu tiếp theonhưngsẽ lại mỗi một người sẽ dạy học sinh một kiểu như sau: Thầy A sẽ dạy học sinh láy dài 3 phách và để nguyên 1 phách còn lại để lấy hơi. Cũng như vậy cô B lại cho học sinh láy dài 3 phách rưỡi và còn nửa phách sau để lấy hơi… Vậy qua tham khảo của một số giáo viên cùng dạy chuyên ngành, chúng tôi đã thống nhất trong bộ môn việc cần phải ghi và có chỉ dẫn cụ thể việc ngưng ở nửa phách cuối của ô nhịp cuối cùng để lấy hơi vào câu nhạc tiếp theo và như ở ví dụ trên thì học sinh sẽ láy rèn và ngân 3 phách rưỡi.

Hay như vẫn ký hiệu láy (tr )như ví dụ 39, có người lại láy dài từ nốt la  xuống nốt son và có người lại láy dài từ nốt son lên nốt la. Vậy theo khi ký hiệu chỉ dẫn, cần thống nhất yêu cầu láy bắt đầu từ nốt chính được ghi trong bản phổ trước rồi sau đó mới sang nốt khác ( từ nốt son lên nốt la ).

Thực chất thì nó chỉ là một nốt láy nhưng vấn đề là người thổi sẽ láy đơn hay láy kép, láy 2 lần hay 1 lần cũng không thống nhất. Nếu ta chỉ láy 1 lần cho nốt nhạc đó thì sẽ sai về kỹ thuật cũng như sẽ không đúng với ý đồ của tác giả. Vì khi ta láy một lần thì sẽ bị nhầm lẫn với kỹ thuật nốt lướt nhỏ. Bởi vậy, cần phải có sự thống nhất về quy định cách thổi dù là đã có ký hiệu tr. ở trên đầu nốt nhạc.

Ngoài những vấn đề chưa thống nhất của ký hiệu trile thì ký hiệu của các ngón vuốtcũng chưa được hiểu một cách thống nhất và ký hiệu này cũng cần phải được thống nhất như vuốt từ nốt đi đến nốt đến như thế nào cho đúng.

Với những câu nhạc có ký hiệu chỉ dẫn kỹ thuật vuốt từ nốt đầu đến nốt cuối này, theo chúng tôi ta nên thống nhất thực hiện đúng với yêu cầu mà các chỉ dẫn đã ghi rõ. Như trong ví dụ 40, ta sẽ thực hiện kỹ thuật ngón vuốt từ nốt  lên nốt  và cách vuốt như sau.

2.2.3. Bổ sung các bài tập kỹ thuật hỗ trợ:

Mỗi tác phẩm thì các tác giả lại viết những kỹ thuật khác nhau và khi đó bắt buộc học sinh phải thực hiện đúng kỹ thuật đó.Bài tập kỹ thuật lại chính là bài tập kỹ thuật hỗ trợ trực tiếp, hết sức quan trọng để thể hiện một tác phẩmmới. Khi giáo viên soạn bài, lựa chọn tác phẩm giao cho học sinh, giáo viên cần tham khảo, lựa chọn, thậm chí tự soạn các bài tập kỹ thuật ngắn có trong tác phẩm mà học sinh sẽ học để bổ trợ cho học sinh.

Việcluyện tập kỹ thuật thông qua các bài tập bổ trợ ngắn sẽ giúp cho học sinh nhanh chóng hoàn thành được tác phẩm.

Các kỹ thuật cơ bản được sử dụng trong các tác phẩm:

  •  Kỹ thuật về Hơi: đẩy hơi, rung hơi…
  • Kỹ thuật về Lưỡi: lưỡi đơn, lưỡi kép, rung lưỡi, staccato..
  • Kỹ thuật Ngón: chạy ngón, vỗ ngón, ngón vuốt…

Từ 3 kỹ thuật cơ bản trên, học sinh cần rèn luyện kỹ năng kết hợp các kỹ thuật như kỹ thuật đẩy hơi kết hợp với vỗ ngón, đẩy hơi với lưỡi kép, lưỡi kép với chạy ngón thông qua các bài tập kỹ thuât ngắn trên nguyên tắc những bài tập kỹ thuậtnày phải trực tiếp hỗ trợ cho những kỹ thuật có trong tác phẩm mới mà học sinh sẽ được học.Vì thế, những bài tập bổ trợ kỹ thuật này không thay thế các bài kỹ thuật chính thức có trong giáo trình.

Sau đây, tôi xin đưa ra một số ví dụ để minh họa cho giải pháp sử dụng các bài tập kỹ thuật bổ trợ trực tiếp khi học sinh học tác phẩm mới. Một điều cần lưu ý rằng việc luyện tập các bài tập kỹ thuật bổ trợ này chỉ cần thiết đối với các học sinh còn yếu kỹ thuật, không nhất thiết phải áp dụng cho tất cả học sinh.

Với tác phẩm này thì chúng tôi sẽ bổ trợ cho học sinh bài tập kỹ thuật của ngón vuốt.Để thể hiện  kỹ thuật ngón vuốt này học sinh cần thực hiện như sau: nếu vuốt lên từ từ âm tấp lên âm cao cần thực hiện di miết ngón tay từ từ dọc theo lỗ sáo, miết từ mép ngoài lỗ sáo vào trong và đẩy ngón tay hơi đưa lên. Tương tự như vậy nếu vuốt ngón đi xuống thì ngón tay phải di miết từ trên xuống theo hình cánh cung và ngón tay phải hơi khum lại. Chú ý cần thả lỏng các ngón tay không được lên gân khi thể hiện kỹ thuật ngón vuốt để âm thanh vang lên thấy rõ được sự dịch chuyển độ cao từ thấp lên cao hay từ cao xuống thấp một cách mềm mại.

Bài tập sử dụng kỹ thuật lưỡi kép với các ngón chạy liền bậc và cách bậc. Với bài tập này học sinh cần phải tập chạy lưỡi kép liên tục để sao cho lưỡi không bị cứng, bị đơ khi phải đánh lưỡi kép nhiều ô nhịp liên tục.

Bài tập hỗ trợ về kỹ thuật lưỡi kép kết hợp với tiết tấu đảo phách. Trong lúc hướng dẫn học sinh luyện tập giảng viên cần nhắc nhở các em phải chú ý nhấn vào tiết tấu đảo phách đặc biệt là những nốt có dấu ( > ) thì cần phải nhấn mạnh, dứt khoát. Ngoài ra bài tập còn giúp cho học sinh luyện tập về kỹ thuật đánh lưỡi kép và chạy ngón với những quãng tương đồng với tác phẩm.

2.2.4. Tập hoà tấu với  đĩa nhạc nền:                                                                                                

Giải pháp tập hòa tấu với đĩa nhạc nền là một giải pháp nhằm khắc phục một thực tế là ở bộ môn cũng như khoa, do thiếu nhân lực, việc bố trí tốp nhạc đệm cho học sinh trong quá trình học tập là vô cùng khó khăn. Ngay ở những cơ sở đào nhạc cụ truyền thống lớn như Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, việc đệm cho học sinh trung cấp vẫn phải do giảng viên hoặc sinh viên đại học hỗ trợ tự nguyện.

Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1 thì sau khi học xong một tác phẩm mới, học sinh phải đợi đến lúc gần thi mới được tốp nhạc hay là dàn nhạc đệm hoặc thậm chí là chỉ có một cây đàn 36 đệm. Việc thời gian được tập đệm quá ít đã  khiến các em chưa thực sự được chủ động và nhiều khi không ăn khớp với phần đệm, dẫn đến học sinh sẽ thiếu tự tin trong diễn tấu, dẫn đến hay mắc lỗi vềkỹ thuật. Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi đề xuất sau mỗi bài tác phẩm học sinh hoàn thành chúng ta sẽ cho các em hoà tấu với phần đệm của dàn nhạc nhưng được thu vào đĩa nhạcvà sẽ học vào những tiết học cuối cùng của tác phẩm đó. Nếu xét theo khía cạnh nghệ thuật thì phương pháp này cũng chưa được coi là có học thuật nhưng xét theo khía cạnh để các em luyện tập hàng ngày thì chúng tôi cho đó là một giải pháp tốt. Thay vì phải đợi đến cuối học kỳ hay cuối khoá học học sinh mới được đệm thì nay các em sẽ được hướng dẫn tập luyện với đĩa nhạc nền ngay tại lớp và tại nhà.

Để giải pháp tập hòa tấu với đĩa nhạc nền có tính khả thi, việc tổ chức thu các phần đệm của các tác phẩm, sau đó chuyển sang đĩa CD để sử dụng là việc có thể thực hiện được.

Việc được tập luyện thường xuyên như vậy sẽ giúp các em nắm vững được những câu ra từ đó sẽ chủ động và tự tin khi trình bày bài dự thi cũng như biểu diễn trên sân khấu.Phương pháp này còn mang tính ứng dụng thực tế rất cao bởi khi các em đi biểu diễn ở trong xã hội vì đĩa nhạc nhỏ gọn và rất tiện trong di chuyển.

2.3. Thực nghiệm sư phạm

Sau khi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng đạy tác phẩm mới đã được trình bày trong chương 2, chúng tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm trong một học kỳ từ ngày 15/1/2016 đến ngày 20/5/2016 tại khoa Nhạc cụ truyền thống Trường CĐNT Hà Nội.

2.3.1. Biên soạn giáo án và tổ chức thực nghiệm

Tên bài học: tác phẩm Gọi trăng sáng tác Ngọc Phan

Đối tượng: Học sinh Trung cấp ( năm thứ tư )

Người hướng dẫn: Giảng viên Nguyễn Thị Trang

Hình thức tổ chức lớp học: Cá nhân ( 1 thầy/ một trò/ 1 tiết )

2.3.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm

Qua quá trình giảng dạy thực nghiệm, tổ bộ môn sáo đã đưa ra đánh giá nhận xét về phương pháp giảng dạy cũng như những giải pháp xuất mới trong giáo án thực nghiệm như sau:

- Với học sinh trung cấp,học tác phẩm mới với những chỉ dẫn âm nhạc rõ ràng giúp các em nắm bắt được những yêu cầu chính xác về sắc thái khi thể hiện tác phẩm.

- Việc được luyện tập các bài tập hỗ trợ đối với yêu cầu đã chỉ ra trong tác phẩm hay các đoạn nhạc khó trong tác phẩm được luyện đi luyện lại đã đem lại hiệu quả cao, từ đó các em ứng dụng các kỹ thuật một cách nhuần nhuyễn, thuận lợi. Sự tiếp thu bài nhanh hơn tạo sự hứng thú trong học tập đối với học sinh

- Do các em được thực hành hòa tấu ngay cùng với phần đệm được thu sẵn trong đĩa đã giúp các em nhưng nghỉ ra vào chuẩn với nhạc đệm. Học sinh được thực hành biểu diễn cùng nhạc nền ngay trong giờ lên lớp.

Qua buổi thi cuối kỳ, với bảng chấm điểm của tổ bộ môn cùng BCN Khoa tham dự đánh giá nhận xét kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh đã đạt được kết quả từ khá trở lên. Kết quả thi đạt loại A với chỉ số điểm giỏi, điều này cho thấy các giải pháp mà chúng tôi đã đề xuất trong chương 2 của luận văn đã đem lại hiệu quả tốt trong giảng dạy cho học sinh. Từ đó tổ bộ môn đi đến một quyết định là thống nhất việc cho tiến hành ứng dụng vào việc giảng dạy học sinh trung cấp bộ môn sáo trúc tại nhà trường để mang lại hiệu quả tốt đối với toàn bộ học sinh.

 

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

 

            Nội dung của chương 2 là nội dung chinh của đề tài nghiên cứu. Sau khi ở chương 1, chúng tôi đã trình bày khái quát về các tác phẩm mới viết cho sáo trúc hệ trung cấp, xác định vai trò của tác phẩm mới trong giáo trình giảng dạy đồng thời đánh giá thực trạng giảng dạy của đội ngũ giáo viên, khả năng tiếp thu của học sinh, chúng tôi đã đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn. Những giải pháp đó là: Bổ sung và sắp xếp lại giáo trình giảng dạy. Nâng cao yêu cầu giảng dạy kỹ thuật cho từng năm học. Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất các giải pháp hỗ trợ như: Dạy sáo 10 lỗ bấm ngay từ năm thứ nhất. Thống nhất các chỉ dẫn diễn tấu ghi trong tác phẩm mới. Bổ sung các bài tập hỗ trợ. Tập hòa tấu với đĩa nhạc nền.

            Một nội dung quan trọng trong chương 2 đó là thiết kế giáo án thực nghiệm và tổ chức thực nghiệm để đánh giá hiệu quả trong giảng dạy các giải pháp đã đề ra trong luận văn.

Qua buổi thi cuối kỳ, tổ bộ môn và ban chủ nhiệm khoa đã đánh giá kết quả thực nghiệm đạt yêu cầu. Kết quả đó cho thấy các giải pháp mà chúng tôi đã đề xuất trong chương 2 của luận văn đã đem lại hiệu quả tốt trong giảng dạy cho học sinh.

 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

 

Từ lâu âm nhạc đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của mỗi chúng ta. Khi đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về món ăn tinh thần ấy được mọi người đặc biệt quan tâm vì nó đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục con người hướng tới những giá trị cao đẹp trong cuộc sống. Để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu của xã hội được đặt lên hàng đầu.

Qua thực tế làm công tác giảng dạy chuyên ngành sáo trúc hệ trung cấp Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, bên cạnh những mặt thành công thì vẫn còn tồn tại những hạn chế như: nội dung, yêu cầu trong giảng dạy tác phẩm mới chưa thống nhất trong bộ môn. Các tác phẩm mới trong giáo trình chưa được sắp xếp một cách hợp lý.

Trên cơ sở lý luận và thực trạng giảng dạy các tác phẩm mới viết cho sáo trúc hệ trung cấp trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, ngoài những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy đã được đề xuất trong luận văn, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị như sau:

- Bộ môn cùng với ban chủ nhiệm khoa cần thường xuyên sưu tầm, biên tập các tác phẩm mới viết cho sáo trúc để bổ sung vào giáo trình giảng dạy.

- Tố chức biên soạn các phần đệm và ghi lại trên băng đĩa các tác phẩm mới có trong giáo trình để nâng cao chất lượng học hòa tấu.

- Thường xuyên tạo điều kiện cho học sinh được tham gia biểu diễn để thực hiện tốt phương châm học đi đôi với hành.

            Những khuyến nghị mà chúng tôi đề xuất là hoàn toàn có tính khả thi và sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng caochất lượng giảng dạy tác phẩm mới nói riêng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo chuyên ngành sáo trúc .,.

Đầu trang
  
English


Các khoa, bộ môn
Khoa Piano
Khoa Dây
Khoa Kèn - Gõ
Khoa Accordion - Guitar- Organ
Khoa nhạc Jazz
Khoa Thanh nhạc
Khoa Nhạc cụ Truyền thống
Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy
Khoa Kiến thức Âm nhạc
Khoa Kiến thức Đại cương
Khoa Văn hoá

Quảng cáo
Liên hệ quảng cáo
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
77 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
ĐT: +844 3851 4969 / 3856 1842 - Fax: +844 3851 3545
Website: www.vnam.edu.vn - Email: hvan@vnam.edu.vn