Trang chủ
Kỷ niệm 60 năm thành lập Học viện ÂNQGVN
Giới thiệu
Tổ chức
Ba công khai
Hoạt động
Tuyển sinh
Đào tạo
Biểu diễn
Nghiên cứu
Thông tin nghiên cứu KH
Luận án Tiến sĩ
Luận văn Thạc sĩ
Biểu mẫu đăng ký NCKH
Mẫu đăng ký GS, PGS
Giáo trình
Hợp tác quốc tế
Liên hệ

Giảng viên
Sinh viên
Thư điện tử
Tin ảnh

Lượt truy cập: 4769890
Luận văn Thạc sĩ Thứ ba, 25/04/2017

Tác giả: Nguyễn Hồng Ánh 
Tên Đề tài: Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn Tam thập lục hệ cao đẳng tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy chuyên ngành âm nhạc (Tam thập lục)
Mã số: 60 21 02 02
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Xuân Tùng
Ngày đăng: 08/10/2016

Toàn văn Luận văn

Tóm tắt Luận văn:

MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, đàn tam thập lục là một nhạc cụ được du nhập vào Việt Nam mà trong quá trình đó, đàn tam thập lục đã dần khẳng định được vai trò của nó trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Đàn tam thập lục đã tham gia vào các dàn nhạc dân tộc với vai trò hòa tấu, đệm cho các nhạc cụ dân tộc khác độc tấu. Chính vì vậy, đàn tam thập lục đã trở thành một trong các chuyên ngành nhạc cụ dân tộc có trong chương trình đào tạo của tất cả các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp.

Đàn tam thập lục có một vị trí khá quan trọng trong các hoạt động âm nhạc truyền thống, không chỉ bảo đảm chức năng hòa tấu trong dàn nhạc hay đệm cho các nhạc cụ dân tộc khác trình diễn mà còn biểu diễn độc tấu các tác phẩm mới, trong đó có các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục. Chính vì vậy, tại các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, việc giảng dạy chuyên sâu để trình diễn các tác phẩm mới giúp cho sinh viên có đầy đủ kỹ năng để biểu diễn độc tấu và hòa tấu các tác phẩm mới.

Trong chương trình đào tạo chuyên ngành tam thập lục, các tác phẩm chuyển soạn là một nguồn tài liệu học tập quan trọng. Cho đến nay, hầu như có các rất ít tác phẩm do các nhạc sỹ Việt Nam sáng tác riêng cho tam thập lục, Vì vậy, các tác phẩn chuyển soạn đóng vai trò quan trọng trong giáo trình đào tạo tam thập lục tại các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.

Hiện nay, chương trình giảng dạy các tác phẩm mới cho đàn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội (CĐ NT HN) gồm có các tác phẩm được chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu và các tác phẩm viết cho đàn tam thập lục Trung Quốc được chuyển soạn cho đàn tam thập lục Việt Nam. Có thể nói, do thiếu các tác phẩm sáng tác riêng cho đàn tam thập lục nên các tác phẩm chuyển soạn có vai trò rất quan trọng trong đào tạo, biểu diễn đối với chuyên ngành tam thập lục. 

Với vị trí là giảng viên tam thập lục tại khoa Nhạc cụ dân tộc của trường CĐ NT HN, tôi cho rằng trong chương trình giảng dạy hệ cao đẳng đàn tam thập lục của trường, việc nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm nước ngoài chuyển soạn là một việc rất cần thiết. Trong quá trình giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn, giảng viên sẽ phát huy, bổ sung được những kĩ thuật để thể hiện các tác phẩm mới, các tác phẩm đương đại trong cả hòa tấu, đệm và độc tấu. Vấn đề chuẩn hóa các tác phẩm chuyển soạn cho đàn Tam thập lục, hệ thống các bài chuyển soạn, bổ sung và nâng cao yêu cầu kỹ thuật để thống nhất được bài bản và những yêu cầu về kỹ thuật trong giáo trình giảng dạy cũng là những yêu cầu cấp bách trong đào tạo hiện nay của nhà trường.

Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu khoa học thạc sỹ của mình. Nếu đề tài nghiên cứu được thành công, tôi hy vọng sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục tại trường CĐ NT HN.  

  1. Lịch sử đề tài

Trong quá trình hoàn thành luận văn, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, nghiên cưú và tham khảo một số tài liệu khoa học, giáo trình giảng dạy và các luận văn có nội dung liên quan tới đề tài "Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội" như:    

  • Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Phúc "Một số vấn đề về giảng dạy đàn 36 dây tại Nhạc viện Hà Nội" (2000). Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm chương trình giảng dạy tam thập lục nói chung và những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tam thập lục tại Nhạc viện Hà Nội. Nội dung của luận văn đã đề cập tới xuất xứ của đàn 36 dây qua các tài liệu trong và ngoài nước. Quá trình phát triển đàn 36 dây tại Việt Nam, đồng thời tác giả cũng đã so sánh những cây đàn dây gõ trên thế giới với đàn 36 dây Việt Nam.
  • Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thanh Hằng (2003) "Một số nghiên cứu về kỹ năng Hòa tấu - Đệm của đàn tam thập lục". Do xác định chức năng chủ yếu của đàn tam thập lục là đệm cho các nhạc cụ dân tộc và hòa tấu trong các dàn nhạc truyền thống, nên tác giả của luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu các kỹ năng đệm, kỹ năng hòa tấu các bài bản dân ca, bài bản truyền thống, các ca khúc chuyển soạn và các tác phẩm mới.
  • Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Quỳnh Trang "Giảng dạy tác phẩm mới cho đàn Tam Thập lục tại Học viện Âm nhạc Huế" (2014). Với đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các tác phẩm mới, tác giả luận văn đã đưa ra một số giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy cho học sinh và sinh viên tại Học viện Âm nhạc Huế.

Ngoải các luận văn khoa học có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu, tôi cũng đã tham khảo các tài liệu khác như:

  • Giáo trình cao đẳng đàn Tam thập lục, 2009, Lương Thu Hương, trường CĐ NT HN biên soạn.
  • Tuyển tập các tác phẩm Việt Nam soạn cho đàn Tam Thập Lục, 1997, Bộ Văn hóa Thông tin, Nhạc viện Hà Nội, Nhóm giảng viên tổ Tam thập lục, do Nguyễn Xuân Dung chủ biên.
  • Tuyển tập các tác phẩm nước ngoài chuyển soạn đàn Tam Thập Lục, 2015, Nguyễn Hồng Ánh, trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nôi biên soạn.

Như vậy, qua những trình bày ở trên, việc lựa chọn đề tài "Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội" không bị trùng lập nội dung với các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học hay luận văn nào khác, đồng thời hoàn toàn phù hợp với mã chuyên ngành đào tạo.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu   

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đàn tam thập lục Việt Nam; các tuyển tập, bài bản trong giáo trình giảng dạy đàn tam thập lục nói chung và các tác phẩm chuyển soạn đã được sử dụng trong giáo trình đào tạo; phương pháp giảng dạy của giảng viên; phương pháp học tập của sinh viên bộ môn đàn tam Thập Lục, khoa Nhạc cụ dân tộc, trường CĐ NT HN.

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm chuyển soạn cho đàn Tam thập lục độc tấu được sử dụng trong giáo trình giảng dạy đàn tam thập lục, chất lượng và hiệu quả đào tạo chuyên ngành tam thập lục tại hệ cao đẳng tại Khoa Nhạc cụ dân tộc, trường CĐ NT HN.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đề xuất ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các tác phẩm chuyển soạn cho đàn Tam thập lục, góp phần đổi mới về đào tạo đàn tam thập lục, tại Khoa Nhạc cụ dân tộc, trường CĐ NT HN.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cụ thể, đề tài của luận văn thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng, vì vậy, trong luận văn này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: (a) Phương pháp nghiên cứu lý thuyết; (b) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm; (c) Phương pháp phi thực nghiệm.

  1. Đóng góp của luận văn

Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hy vọng đề tài nghiên cứu "Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội" sẽ đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo đàn tam thập lục hệ cao đẳng nói riêng và khoa Nhạc cụ dân tộc nói chung tại trường CĐ NT HN.

  1. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có hai chương:

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực trạng giảng dạy,

CHƯƠNG 2: Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY

 

  1. Khái quát về các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục
    1. Phân loại các tác phẩm chuyển soạn
      1. Tác phẩm chuyển soạn và những khái niệm cơ bản

Chuyển soạn là một kỹ thuật sáng tác nhằm chuyển một tác phẩm âm nhạc được soạn từ một nhạc cụ này sang cho một nhạc cụ khác (cũng có thể là một giọng hát) trình diễn, hoặc một tác phẩm hòa tấu chuyển soạn sang cho một nhạc cụ hoặc ngược lại. Tóm lại, những hình thức chuyển soạn như vậy rất phong phú và đa dạng; vì thế, khái niệm chuyển soạn đôi khi được hiểu là chuyển thể.

Như vậy, việc chuyển soạn các tác phẩm âm nhạc quen thuộc với mọi người để trình diễn ở nhiều hình thức khác nhau là một xu hướng chung không chỉ có ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Do hiện có rất ít các tác phẩm viết riêng cho một nhạc cụ nhất định nên hầu như trong các giáo trình giảng dạy của các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, ngoài những bài bản dân ca, nhạc phong cách cổ truyền như chèo, tài tử cải lương, ca Huế là những phần học bắt buộc thì phần tác phẩm âm nhạc mới sử dụng chủ yếu các bài chuyển soạn.

Thông qua phân tích các bài đã được chuyển soạn cho đàn tam thập lục hiện đang được sử dụng trong giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và trong giáo trình của hệ cao đẳng tại trường CĐ NT HN, chúng tôi nhận thấy một số nguyên tắc chuyển soạn được các tác giả sử dụng trong các tác phẩm như sau:

1. Các tác giả đều tôn trọng nguyên tác (bản gốc) về giai điệu, tính chất âm nhạc.

2. Các tác giả đã sử dụng các ưu thế kỹ thuật và khắc phục một phần những nhược điểm của một nhạc cụ gõ khi chuyển soạn từ những tác phẩm ca khúc hoặc những tác phẩm viết cho các nhạc cụ khác như violon, piano, v.v.

3. Đối với các tác phẩm của các nhạc sỹ Trung Quốc viết cho đàn tam thập lục, do có sự khác nhau của hệ thống sắp xếp nốt nhạc giữa 2 loại đàn tam thập lục của Trung Quốc và Việt Nam cho nên các tác giả chuyển soạn chủ yếu tập trung vào việc xử lý thế tay hòa âm gốc.

4. Trong hầu hết các bài chuyển soạn, các tác giả đều chú ý tới việc phô diễn những kỹ thuật độc đáo của đàn tam thập lục như vê, chạy âm rải, đánh chổng âm, v.v.

Với những phân tích trên, có thể nói các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục là những bài đã được tam thập lục hóa ở mức đội khác nhau từ những nhạc cụ, những bài hát, dân ca, dân vũ nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.

  1. Phân loại các tác phẩm chuyển soạn

Căn cứ vào các tác phẩm chuyển soạn dành cho đàn Tam thập lục được đưa vào giáo trình của Học viện Âm nhạc Quốc gia, cũng như của trường CĐ NT HN, chúng tôi thấy các tác giả cũng như bộ môn tam thập lục của hai trường đã chia các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục độc tấu làm 3 thể loại bao gồm: (a) Chuyển soạn từ dân ca hoặc ca khúc; (b) Chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc nước ngoài (chủ yếu là nhạc châu Âu); (c) Chuyển soạn từ những sáng tác viết cho đàn tam thập lục của các nhạc sỹ Trung Quốc sang cho đàn tam thập lục Việt nam.

  1. Một số kỹ thuật tiêu biểu được khai thác và sử dụng chủ yếu trong các tác phẩm chuyển soạn

Trong số 17 bài chuyển soạn từ khí nhạc châu Âu và nhạc Trung Quốc có trong giáo trình tam thập lục hệ cao đẳng trường CĐ NT HN, những kỹ thuật của đàn tam thập lục đã được các tác giả khai thác và sử dụng phổ biến có thể kể đến bao gồm: (a) Kỹ thuật đánh song long; (b) Kỹ thuật vê (tremolo); (c) Kỹ thuật lướt; (d) Kỹ thuật láy; (đ) Kỹ thuật bịt ngón (saccato); (e) Kỹ thuật vuốt; (g) Kỹ thuật 2 tay độc lập 2 bè; (h) Kỹ thuật búng; (i) Kỹ thuật nẩy (gồm cả nẩy chồng âm); (k) Kỹ thuật gẩy đuôi que.

  1. Vị trí của các tác phẩm chuyển soạn trong giáo trình

Hiện nay, giáo trình đào tạo tam thập lục hệ cao đẳng 3 năm chính quy của trường CĐ NT HN được thiết kế với tổng số 180 tiết, trong đó có 40 tiết nhạc phong cách, 24 tiết bài tập, 60 tiết tác phẩm mới, 35 tiết các tác phẩm chuyển soạn và 21 tiết dành cho ôn tập và chương trình tốt nghiệp.

Qua số lượng tiết của các nội dung học phần được phân bổ cho 3 năm, có thể thấy trong từng năm, số lượng tiết của sinh viên học tác phẩm chuyển soạn khá nhiều, tương đương số bài và tiết học các tác phẩm sáng tác. Những tác phẩm được chuyển soạn nằm trong giáo trình giảng dạy được lấy từ những tác phẩm khí nhạc châu Âu và Trung Quốc đã phản ánh được mục tiêu đào tạo là luôn bám sát thực tiễn đời sống âm nhạc. Nhiều tác phẩm khí nhạc chuyển soạn đã được trình diễn thành công trong và ngoài nước như Czardas của V. Monti, Sonate Mùa Xuân (Sonate No 5) của Beethoven, v.v.

  1. Thực trạng giảng dạy
    1. Về đội ngũ giảng viên và chương trình giảng dạy
      1. Về đội ngũ giảng viên

Trường CĐ NT HN đã được thành lập từ năm 1967 với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng học sinh các bộ môn nghệ thuật ở trình độ trung cấp, cao đẳng và nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực nghệ thuật phục vụ cho sự phát triển văn hóa, nghệ thuật của thủ đô. Khoa Nhạc cụ dân tộc là một khoa đào tạo về diễn tấu các loại nhạc cụ dân tộc. Khoa được thành lập ngay từ ngày đầu hoạt động của trường. Sau gần 50 năm hình thành và phát triển, khoa Nhạc cụ dân tộc được coi như một cơ sở đào tạo, sáng tác, biểu diễn chuyên nghiệp về nghê thuật âm nhạc dân tộc của đất nước. Hiện nay, Khoa Nhạc cụ dân tộc gồm có 15 giảng viên chính với 6 bộ môn, bao gồm: Tam thập lục, bầu, sáo, nguyệt, nhị, thập lục. Đội ngũ giảng viên đều đã tốt nghiệp đại học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia và Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, hầu hết các giảng viên đều đang theo học các lớp Cao học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia và Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.

Bộ môn tam thập lục hiện nay gồm có 3 giảng viên.

Nhìn chung, với quy mô đào tạo không lớn, nhưng với thâm niên và bề dày kinh nghiệm giảng dạy, các giảng viên bộ môn tam thập lục đã luôn cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng được yêu cầu đào tạo của nhà trường.

  1. Về chương trình giảng dạy

Chương trình giảng dạy tam thập lục tại trường CĐ NT HN gồm các nội dung với yêu cầu như sau:

  • Yêu cầu đối với sinh viên:
  1. Sinh viên phải nắm vững âm nhạc chuyên nghiệp theo các phong cách chèo, Huế, cải lương với khúc thức âm nhạc quy mô lớn, phức tạp, có khả năng nắm vững phong cách nhạc mới, các tác phẩm chuyển soạn để hình thành tư duy về hình thức trình diễn với yêu cầu cao hơn. Các kỹ thuật diễn tấu phải nắm được đầy đủ sau khi tốt nghiệp như kỹ thuật hai tay kết hợp độc lập bè, kỹ thuật nẩy, kỹ thuật song long, kỹ thuật vê, kỹ thuật bịt ngón, kỹ thuật vuốt, kỹ thuật lướt, kỹ thuật gẩy đuôi que, kỹ thuật búng.
  2. Sinh viên có cảm nhận để phát triển phong cách trình diễn của cá nhân khéo léo và sâu sắc là một yêu cầu trong thi tốt nghiệp. Sinh viên sau khi ra trường có thể tự tin đảm bảo đẩy đủ kỹ năng đệm và độc tấu trong dàn nhạc tại các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.
  • Yêu cầu đối với giảng viên:
  1. Giảng viên cần chủ động lựa chọn các bản chuyển soạn của khí nhạc như ghita, piano, violon đưa vào giáo án giảng dạy phù hợp với khả năng của từng sinh viên. Các tác phẩm được lựa chọn phải có đầy đủ các loại kỹ thuật đã nói trên.
  2. Giảng viên cần chuẩn bị tài liệu, thực hiện đầy đủ Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy (Ban hành kèm Quyết định số 25/2006/QĐ-BGĐT ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), tổ chức đúng quy định về kiểm tra của giáo viên và đánh giá của Hội đồng các giáo viên tại thời điểm giữa học phần và cuối học phần.

Trong thời gian đào tạo hệ cao đẳng của chuyên ngành tam thập lục, giáo trình được chia làm 3 phần chính: Phần bài tập, phần nhạc cổ và phần tác phẩm mới (bao gồm tác phẩm sáng tác và tác phẩm chuyển soạn). Đối với mảng nhạc cổ, sinh viên phải học 3 phong cách nhạc cổ là chèo, Huế và cải lương.

  1. Về các tác phẩm chuyển soạn trong giáo trình

Tại trường CĐ NT HN, các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục được lựa chọn đưa vào giảng dạy chủ yếu từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu và từ các tác phẩm sáng tác cho đàn tam thập lục Trung Quốc do các giảng viên tự biên soạn. Việc lựa chọn các tác phẩm để chuyển soạn đều đã được bàn bạc trong bộ môn với mục đích làm cho sinh viên có nhiều tác phẩm độc tấu để tham gia biểu diễn tại các hoạt động âm nhạc trong xã hội, gắn liền giữa học và hành. Chính vì vậy, như chúng tôi đã trình bày một phần nội dung trong mục 1.1.2. Vị trí của các tác phẩm chuyển soạn trong giáo trình đào tạo, các tác phẩm khí nhạc châu Âu được lựa chọn theo tiêu chí thể hiện được cao nhất khả năng kỹ thuật và độc tấu của tam thập lục Việt Nam và phải luôn gắn với việc thể hiện đầy đủ được tư tưởng, thông điệp của tác phẩm gốc. Trải qua thực tiễn và kết quả đào tạo, bộ môn cũng đã nhận thấy những ưu điểm và nhược điểm của các tác phẩm đã được chuyển soạn. Đối với các bài chuyển soạn từ các tác phẩm của các nhạc sỹ cổ điển châu Âu như Vivaldi, Bach, Mozart, v.v. thì ngoài vấn đề đánh đúng nốt, tiết tấu, to nhỏ thì sinh viên hầu như chưa nắm được tính chất và yêu cầu thể hiện âm nhạc của các tác phẩm gốc.

  1. Về phương pháp giảng dạy.

Nhìn chung, phương pháp đưa vào giảng dạy chủ yếu của bộ môn tam thập lục là phương pháp truyền nghề, truyền ngón vẫn thường gọi là phương pháp thị phạm. Trong giờ lên lớp, thông thường các giảng viên lên lớp dậy từng câu, từng đoạn, kết hợp giải thích và thị phạm trên đàn cho sinh viên. Phương pháp thị phạm có ưu điểm là giúp sinh viên nhanh chóng bắt chước được các kỹ thuật mới, nắm bắt được hơi thở và cách xử lý bài. Tuy nhiên, đối với các tác phẩm chuyển soạn, đặc biệt là các tác phẩm được chuyển soạn từ khí nhạc châu Âu thì việc thị phạm của giảng viên là chưa đủ. Sinh viên không được nghe tác phẩm ở dạng nguyên thể do đó không nắm được tính chất âm nhạc, yêu cầu thể hiện của tác phẩm gốc. Trong chuyển soạn. một nhược điểm chung của các tác giả chuyển soạn là không ghi lại đầy đủ các ký hiệu chỉ dẫn cách diễn tấu của tác phẩm gốc như tiết tấu, cường độ, sắc thái do đó dẫn đến tình trạng có sự khác nhau, không thống nhất trong giảng dạy giữa các giảng viên.

Đối với các bản nhạc được chuyển soạn từ các tác phẩm viết cho đàn tam thập lục Trung Quốc thì thường gặp khó khăn về kỹ thuật do cách bố trí nốt nhạc trên đàn tam thập lục Việt Nam khac với đàn tam thập lục Trung Quốc. Nguồn đĩa DVD ghi các buổi trình diễn các tác phẩm gốc Trung Quốc lại rất hiếm ở Việt Nam nên các giảng viên của bộ môn cũng gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy.

Đánh giá chung về phương pháp giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn của giảng viên thuộc bộ môn tam thập lục thì phương pháp dạy thị phạm, truyền nghề theo ngón đàn vẫn là phương pháp chủ yếu. Trong giờ lên lớp, các giảng viên còn chưa chú ý đến phương pháp giải thích, thuyết trình cho sinh viên về tác giả và nguồn gốc hình thành tác phẩm để giúp cho sinh viên nhận thức về tư tưởng, thông điệp của tác giả muốn chuyển tải tới người nghe.  

  1. Khả năng tiếp thu của sinh viên

Trong đào tạo nhạc cụ dân tộc tại trường, các cấp học được xuyên suốt từ hệ trung cấp lên hệ cao đẳng, bởi vậy việc tiếp nhận kiến thức, kỹ năng của học sinh, sinh viên diễn ra trong một quá trình liên tục. Các kỹ thuật và khả năng trình diễn được đào tạo từ cơ bản và được nâng cao từng bước, từ đó tạo được hiệu quả tương đối tốt trong tiếp thu của học sinh.

Trong chương trình đào tạo hệ cao đẳng 3 năm, sinh viên được học các môn kiến thức cơ bản như lý thuyết âm nhạc, lịch sử âm nhạc châu Âu, lịch sử âm nhạc Việt nam, phân tích âm nhạc, hòa thanh…là những môn học bổ trợ cho chuyên ngành. Những môn học như hòa tấu, thực hành biểu diễn cũng đã hỗ trợ trực tiếp tới môn chuyên môn chính. Vì vậy, lên đến hệ cao đẳng, học sinh khá thuận lợi trong việc xử lý kỹ thuật, kỹ xảo và trình diễn các tác phẩm được nhuần nhuyễn hơn.

Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng tiếp thu của sinh viên bộ môn tam thập lục hệ cao đẳng vẫn còn nhiều hạn chế khi học các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu và từ các tác phẩm sáng tác cho đàn tam thập lục Trung Quốc.

Đối với việc học các tác phẩm được chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu, nhược điểm lớn nhất là sinh viên thiếu sự hiểu biết về những đặc điểm của âm nhạc cổ điển châu Âu. Hầu hết sinh viên khi học các tác phẩm này đều chưa nghe nguyên gốc tác phẩm, do đó khi học mới chỉ thuần túy học đánh đúng nốt, đúng tiết tấu, không có sự cảm thụ sâu sắc về tính chất âm nhạc của một tác phẩm viết cho những nhạc cụ như piano, violon, v.v.

Đối với các tác phẩm của các nhạc sỹ Trung Quốc sáng tác cho đàn tam thập lục Trung Quốc, hầu hết sinh viên cũng chưa nắm bắt được tính chất, phong cách của âm nhạc Trung Quốc.

Ngoài những nhược điểm về khả năng tiếp thu của sinh viên đã nêu ở trên, chúng tôi còn nhận thấy sinh viên chuyên ngành tam thập lục còn yếu về khả năng thị tấu, phụ thuộc rất nhiều vào giảng viên thị phạm. Khả năng thị tấu, tự vỡ bài dựa trên bản nhạc còn rất hạn chế.

  1. Tiểu kết Chương 1

Tam thập lục là một loại nhạc cụ dân tộc được du nhập vào Việt Nam. Trải qua thời gian hòa nhập vào các hoạt động âm nhạc trong đời sống xã hội, đàn tam thập lục đã được cải tiến thành nhạc cụ dân tộc của Việt Nam và đã có chỗ đứng chắc chắn trong đời sống âm nhạc hiện nay.

Cũng do hoàn cảnh mới phát triển nên các tác phẩm âm nhạc viết riêng cho tam thập lục, cũng như các tác phẩm chuyển soạn cho đàn này còn rất ít. Các tác phẩm đưa vào giảng dậy cũng không đủ và càng chưa được chuẩn hóa, chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dậy chuyên ngành.

Tại trường CĐ NT HN, các giảng viên dạy tam thập lục chủ yếu sử dụng phương pháp thị phạm để truyền đạt cho sinh viên những ngón đàn riêng của mình. Phương pháp này thường ít quan tâm tới việc giải thích, thuyết trình cho sinh viên những yêu cầu cơ bản về tính chất âm nhạc của nguyên tác. Một tác phẩm, 2 giáo viên có thể dạy học sinh cảm thụ theo hai cách khác nhau, trình diễn với các kỹ thuật không giống nhau. Đây là một thực tế cần được cải thiện trên nguyên tắc chuẩn hóa các tác phẩm đưa vào giáo trình để có sự thống nhất về kỹ thuật trình diễn, cách thể hiện tác phẩm.

Việc giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục tại trường CĐ NT HN đã được thực hiện trong hơn mười năm qua. Mặc dù các tác phẩm này chưa đủ nhiều để có thể đại diện cho các tác phẩm chuyển soạn nhưng trong điều kiện của nhà trường hiện nay, số lượng các tác phẩm chuyển soạn mà bộ môn tam thập lục đang thực hiện đã đáp ứng một phần nhu cầu đổi mới giáo trình, góp phần từng bước nâng cao chất lượng đào tạo của bộ môn tam thập lục.

Trong Chương 1, chúng tôi cũng đã đề cập tới những ưu điểm cũng như nhược điểm về khả năng tiếp thu của sinh viên chuyên ngành tam thập lục. Trên thực tế, khả năng tiếp thu của sinh viên bộ môn tam thập lục hệ cao đẳng vẫn còn nhiều hạn chế khi học các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu và từ các tác phẩm sáng tác cho đàn tam thập lục Trung Quốc sang cho đàn tam thập lục Việt nam diễn tấu. Sinh viên còn yếu về khả năng thị tấu, phụ thuộc rất nhiều vào giảng viên thị phạm. Khả năng tự vỡ bài còn hạn chế.

 

CHƯƠNG 2

 

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

 

  1. Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn
  1. Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn từ khí nhạc châu Âu

Trong giáo trình của bộ môn tam thập lục hiện nay gồm có 6 bài chuyển soạn từ các tác phẩm được viết cho đàn piano và violon của các tác giả như F. Chopin (1810-1849), A.Vivaldi (1678-1741), J.S. Bach (1685-1750), L.V. Beethoven (1770-1827) và V. Monti (1968-1922). Sáu bài được chuyển soạn từ các tác phẩm của các nhạc sỹ trên đều là những tác phẩm nổi tiếng, được các giảng viên bộ môn tam thập lục nhà trường tự biên soạn và cũng đã đưa vào giảng dạy hơn 10 năm nay.

Để có thể diễn tấu tốt các tác phẩm thuộc trường phái cổ điên và lãng mạn châu Âu, trước hêt, giảng viên cần yêu cầu sinh viên nghe nguyên gốc của tác phẩm để nắm được tính chất, sắc thái của tác phẩm. Dưới đây là những nội dung và yêu cầu chi tiết trong giảng dạy các bài chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu:

  1. F. Choppin (1810-1849) "Waltz no. 7 in C# minor Op.64"

Đây là một tác phẩm mà Chopin đã đưa từ một vũ khúc thành một tác phẩm âm nhạc. Vì thế, ngoài tính chất vũ điệu với những nhịp điệu đều đặn cuả một vũ khúc, khi trở thành một tác phẩm viết cho piano độc tấu, tính chất âm nhạc được uyển chuyển, tự do hơn. Tốc độ có thể thay đổi theo cảm xúc của người chơi.

Trong bài chuyển soạn đã sử dụng các kỹ thuật vê, láy, trong đó kỹ thuật vê là chủ yếu, người học cần chú trọng khi vê hai tay tiếng đàn phải đều, tạo âm thanh có độ ngân, liền đều, trì tục.

Nhược điểm của sinh viên đối với kỹ thuật này là 2 tay vê không đều, không có khả năng vê từ nhỏ dần dần lên to (hoặc ngược lại). Khi câu nhạc lên cao trào, cần âm thanh mạnh (tương đương ff) thì các sinh viên chưa thực hiện được. Do đó, để đạt được cường độ ff, cần hướng dẫn sinh viên vê bằng cổ tay có trợ lực bằng cánh tay.     

  1. A. Vivaldi (1678-1741), "Concerto in A minor, RV365, Op.3 no. 6"

Đây là tác phẩm thuộc trưởng phái tiền cổ điển viết cho violon và piano. Cấu trúc tác phẩm với những câu đoạn vuông vắn, cân phương. Các câu nhạc thường được nhắc lại mang tính đối đáp: đối đáp giữa to và nhỏ, giữa mạnh mẽ và mềm mại. Trong bài chuyển soạn đã sử dụng kỹ thuật chạy kép và bịt ngón. Ở một số tác phẩm nói chung, kỹ thuật bịt ngón được sử dụng ký hiệu (o), một số tác phẩm lại sử dụng ký hiệu chấm ở trên nốt nhạc (.). Để thống nhất trong các bản nhạc chuyển soạn, cần sử dụng cùng một ký hiệu: dấu chấm nhỏ (.) trên nốt nhạc nếu đuôi quay xuống và dưới nốt nhạc nếu đuôi quay lên.

  1. L. V. Beethoven (1770-1827) "Sonata no. 5 in F major, Op. 24, Spring-1"

Đây cũng là tác phẩm viết cho violon và piano. Đối với tác phẩm này, ngoài yêu cầu về tốc độ và âm thanh đều, ổn định, giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên chú trọng trước hết vào kỹ thuật bịt ngón. Như đã nói ở trên đối với kỹ thuật này, ngón bịt cần nhanh nhẹn, chính xác để tạo hiệu quả ngắt tiếng gọn. Đối với những âm hình tiết tấu chùm 3, cần yêu cầu sinh viên chơi chính xác. Đây là một bài chuyển soạn có độ dài lớn nhất trong số các bài được chuyển soạn, do đó giảng viên cần giải thích và yêu cầu sinh viên chú ý phân chia câu nhạc đúng với yêu cầu của tác phẩm, sự tương phản về sắc thái, cường độ giữa các đoạn, câu nhạc.

  1. J.S. Bach (1685-1750) "Concerto in A minor, BWV 1041"

Tác phẩm này viết cho violon và piano. Bài chuyển soạn sử dụng chủ yếu kỹ thuật vê và chạy kép. Về tiết tấu, các tiết tấu chùm 4, đảo phách được yêu cầu ở tốc độ nhanh và tinh tế. Giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên sử dụng đánh tay phải trước sẽ nhanh hơn, vì khi ở các nốt cao, nếu bị chéo tay thì có thể đổi đánh cầu trong hoặc cầu ngoài ngựa để khắc phục. Đây là kỹ thuật tương đối khó, giảng viên phải luyện cho sinh viên rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, sinh viên cần cố gắng phân biệt hiệu quả âm thanh khi đánh liền (với các dấu luyến), phân biệt rõ liền tiếng và rời tiếng. Để tăng độ nhấn giai điệu ở đầu phách, tay phải có thể nhấc cổ tay để tạo sức mạnh cho những nốt nhấn.        

  1. L.V.Beethoven (1770-1827) "Piano Sonata no. 8 in C minor, Op.13, Pathetique-III, Rondo"
  2. ác phẩm chuyển soạn này sử dụng các kỹ thuật vê, chùm 3, chạy kép. Đặc biệt, khi đánh những câu nhạc có dấu luyến kéo dài, giảng viên cần luyện cho sinh viên đánh đều, liền tiếng. Kỹ thuật đánh liền tiếng trong các tác phẩm chuyển soạn từ khí nhạc cổ điển châu Âu là một yêu cầu rất quan trọng. Giảng viên cần chú ý với những đoạn nhạc có tiết tấu chùm 4, dấu lặng kép. Trong trường hợp này, cần yêu cầu sinh viên phải chia rất đều. Một cách giúp cho sinh viên chia nhịp đều là đếm nhẩm và tay đánh theo nhịp đếm. Từ đó, tay sẽ thành phản xạ đánh theo miệng, sau đó sẽ tăng dần tốc độ. Đối với tiết tấu chùm 3, phải được đánh rất đều mà vẫn nhấn được vào giai điệụ lên dần theo cromantic. Đối với loại tiết tấu này, có thể hỗ trợ bằng các dạng bài tập luyện chùm 3 nhấn tay trái hoặc chùm 3 nhấn tay phải.
  3. V. Monti (1868-1922) "Czardas

Dựa trên giai điệu dân ca Hungary nổi tiếng, nhạc sỹ người Ý Vittorio Monti đã sáng tác tác phẩm này cho violon độc tấu với phần đệm piano. Với tính chất âm nhạc vừa sôi nổi vừa duyên dáng, phóng khoáng, hầu như các ban nhạc Zigan nào cũng đều chuyển soạn và diễn tấu bài này dưới hình thức hòa tấu. Toàn bộ tác phẩm được chia làm hai phần rõ rệt. đoạn mở đầu diễn tấu tự do với những chùm nốt chạy hợp âm rải, vê ngân dài với các kỹ thuật như lướt, chấm giật, tô điểm chùm bốn, tô điểm liên tục, kỹ thuật liên đôi ngược liên tục ở tốc độ tương đối nhanh. Bắt đầu từ đoạn nhạc chính (nhịp thứ 8), với nhịp 2/4, giai điệu có tính chất nhảy mứa, sôi nổi, tốc độ rất nhanh (Allegro vivace) đòi hỏi người chơi phải rất linh hoạt hai tay. Xen kẽ đoạn nhạc nhanh là những đoạn nhạc chậm tự do, tạo tính tương phản của tác phẩm. Đối với đoạn nhanh Allegro vivace, cần chú ý nhất vào đảo phách ở tốc độ nhanh. Các nốt chạy kép 2 tay cần chạy đều và có sắc thái, nhấn theo câu chứ không phải nhấn theo phách.

Bắt đầu bước sang chuyển giọng Rê trưởng, việc thay đổi tốc độ từ chậm sang vừa phải, từ vê nốt sang tiết tấu liên đôi ngược, người chuyển soạn đã tạo ra mầu sắc mới so với ý tưởng của tác giả. Đối với các nốt kép nhảy quãng xa, giảng viên có thể hướng dẫn sinh viên sử dụng 2 nốt một tay phải, còn tay trái để dành riêng cho phần giai điệu.

  1. Giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm viết cho tam thập lục Trung Quốc

Đối với các tác phẩm này, ngoài sự khác nhau về cấu trúc giữa đàn tam thập lục của Trung Quốc và đàn Tam thập lục Việt Nam, việc chuyển soạn khá phức tạp khi phải chuyển hệ thống ký âm của Trung Quốc sang hệ thống ký âm chuẩn quốc tế đã được Việt hóa. Do đó, người chuyển soạn phải dịch bản nhạc ký âm số sang hệ thống các nốt nhạc. Mặt khác, nốt cao nhất của tam thập lục Việt Nam thấp hơn so với nốt cao nhất của đàn tam thập lục Trung Quốc. Vì thế, người chuyển soạn có thể thay đổi gam cho phù hợp với đàn tam thập lục Việt Nam. Như trên đã đề cập, cách bố trí hệ thống nốt nhạc theo dây đàn giữa hai loại đàn cũng khác nhau: trên đàn Trung Quốc, hệ thống nốt nhạc bố trí theo chiều ngang; trong khi đó, trên đàn Việt Nam hệ thống nốt nhạc lại bố trí theo chiều dọc. Đặc điểm này ảnh hưởng rất nhiều đến kỹ thuật chạy tay trên dây.

Sau đây, chúng tôi trình bày những nội dung và yêu cầu giảng dạy đối với từng tác phẩm chuyển soạn thể loại này.

 

  1. Tác phẩm "Vung roi quất ngựa", Tác giả: Ngụy Trung Hiển

Ngay tên tác phẩm đã giúp cho người thể hiện hình dung ra được sự uyển chuyển của tiếng vó ngựa, và đặc biệt tiếng vó ngựa sẽ luôn thể hiện bằng kỹ thuật nẩy. Kỹ thuật này đòi hỏi tay nẩy đều, nhanh nhẹn. Những nốt kép có thể sử dụng cùng 1 tay phải, như vậy sẽ nẩy rõ ràng hơn. Đối với nốt đầu phách, người chơi cần nhấc cổ tay sẽ nhấn được vào đầu phách. Một kỹ thuật nữa cũng cần chú ý vì sự tinh tế của đoạn nhạc, đó là kỹ thuật láy. Ở tác phẩm này, kỹ thuật láy được sử dụng nhiều và liên tục. Ngón tay phải cần rất nhanh nhẹn, nốt láy dùng tay phải và nốt trọng tâm dùng tay trái. Kỹ thuật song long cũng là một trong những kỹ thuật cần chú trọng trong bài, 2 tay phải rơi xuống đuổi liền nhau, tạo thành làn sóng mềm mại giống như lướt nhưng chỉ có 2 nốt.

  1. Tác phẩm "Ngày hội tân cương";  Tác giả: Chu Đức Minh

Đối với tác phẩm này, yêu cầu diễn tấu với tốc độ nhanh. Trong bài, sử dụng chủ yếu chạy kép đều tay và chồng âm quãng 8 sao cho 2 tay rơi đều thì cường độ của 2 nốt đều nhau.

  1. Tác phẩm "Hoa Đỗ quyên"; Cải biên dân ca: Quý Tạp Lễ

Kỹ thuật sử dụng trong tác phẩm là các kỹ thuật vê, lướt, láy, nẩy chồng âm, vuốt. Nhiều giảng viên không chú ý đến yêu cầu của tác phẩm là vê quãng 2 trưởng hay quãng 2 thứ, nốt liền kề trên hoặc nốt liền kề dưới đối với nốt chính. Nốt chính phải đánh sao cho to hơn nốt phụ. Sinh viên cần chú ý khi nốt nằm ở tay trái thường hay bị yếu hơn. Đối với kỹ thuật nẩy chồng âm, thể hiện khó hơn với nốt đơn. Như đã nói ở trên, giảng viên cần hướng dẫn sinh viên nhấc cánh tay vào đầu phách, như vậy nẩy cổ tay dễ dàng đạt được trường độ ff theo yêu cầu của bài. Đối với kỹ thuật vuốt đuôi que, giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên cầm que hướng lên trên, nghiêng đổ về phía trước mặt nếu vuốt lên, đổ về phía mình nếu vuốt xuống.

  1. Tác phẩm "Núi đồi xanh hoa đỏ nở tươi"; Tác giả: Dương Quang Nhiệt

Tác phẩm này có sử dụng kỹ thuật vê, lướt, búng. Đối với nốt đơn, chỉ dùng một ngón 2 búng hơi nghiêng vào dây đàn, không búng gần ngựa đàn tiếng sẽ bị cứng, cũng không búng quá xa sẽ chạm dây nốt khác, tiếng đàn sẽ bị nhòe. Kỹ thuật vê ở đây được đúp lên quãng 8, đòi hỏi 2 tay phải thật đều để tăng được cường độ của 2 nốt ở 2 quãng 8 đều nhau. Đối với kỹ thuật vê, để đạt cường độ lớn, cần có những bài tập dạng kỹ thuật vê quãng xa, sử dụng cổ tay rung có trợ lực từ cánh tay.

  1. Tác phẩm "Mùa xuân"; Tác giả: Lưu Phong Khang

Đoạn đầu tự do, mượt mà, tình cảm để đón nhận mùa xuân đến. Các nốt chạy rải từ chậm đến nhanh, từ nhẹ rộ lên dần rồi lại vuốt nhỏ chậm lại. Các nốt rải cũng cần nhẹ nhàng, tình cảm. Cần lưu ý rằng đối với đoạn tự do là phải tự do trong khuôn khổ, như vậy dàn nhạc đệm sẽ nắm bắt được hơi thở của tác phẩm. Kỹ thuật chủ yếu trong tác phẩm là 2 tay 2 bè độc lập: 1 tay đệm, 1 tay đi giai điệu. Các đoạn của bài cũng cần xác định chỉ số tốc độ một cách rõ ràng. Đối với đoạn chậm, 2 tay 2 bè độc lập với bè dưới mang tính chất đệm đan xen nhưng vẫn có nét giai điệu riêng, hoặc giai điệu đuổi. Giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên đánh rõ bè giai điệu.

  1. Tác phẩm "Thuyền rồng";  Tác giả: Trương Chính Thu, Cải biên: Đoàn Khắc Kiểm

Trong tác phẩm này, phần dạo đầu được diễn tấu tự do. Các kỹ thuật bao gồm vê, láy, chùm 4 đảo phách, gạt đuôi que, gẩy đuôi que. Kỹ thuật cần chú trọng là gạt và gẩy đuôi que trong cùng một đoạn nhạc. Giảng viên cần hướng dẫn sinh viên cầm đuôi que gẩy ở tư thế hơi chéo khoảng 40 độ để âm thanh gọn và chính xác. Một kỹ thuật nữa tương đối khó trong tác phẩm này là âm hình chạy kép trì tục, kết hợp chồng âm đảo phách. Đối với thể loại kỹ thuật này, sinh viên phải nhấn được vào những phách đảo bằng cách nhấc cổ tay, nhịp phải vững, tiếng đàn chắc và khỏe.

  1. Tác phẩm "Butterfly Lover"; Tác giả: Trần Cương và Hà Chiến Hào

Tính chất âm nhạc của tác phẩm này là tình cảm lãng mạn. Đối với đoạn đầu, diễn tấu tự do, cần lưu ý kỹ thuật lướt không chỉ ở 4 nốt mà còn lên đến 5 nốt. Giảng viên cần hướng dẫn sinh viên lướt liền tiếng đàn, nhẹ nhàng, sử dụng tay phải hay tay trái để tránh chéo tay. Đoạn nhạc thứ 2 sử dụng đầu tre để thay đổi âm sắc của tác phẩm. Giảng viên cần hướng dẫn sinh viên nhanh tay đẩy que vào phía lòng bàn tay để lật lại. Khi đánh đầu tre, sinh viên phải đánh thật chính xác, tránh chạm dây tiếng đàn sẽ bị nhòe, không đánh quá mạnh tiếng đàn sẽ bị thô.

  1. Tác phẩm "Suối nguồn hạnh phúc"; Tác giả: Đinh Quốc Thuấn

Trong tác phẩm này, giảng viên cần lưu ý kỹ thuật nẩy chồng âm, kép chùm 8, kép chùm 10 ở tốc độ nhanh. Sau đoạn đầu tự do, đến đoạn vào nhịp, giảng viên cần bổ sung quy định về chỉ số tốc độ phù hợp. Kỹ thuật kép chùm 8 trong phần cadenza của bài được yêu cầu chơi với tốc độ rất nhanh. Đoạn này đòi hỏi sinh viên phải có trình độ khá, giỏi vì tốc độ rất nhanh, 2 tay rơi đều, đạt tốc độ đến 100 (nốt đen = chùm 8). Đặc biệt khi chuyển sang nốt đen bằng chùm 10 thì chú ý sao cho nhịp vẫn giữ được đều.

  1. Tác phẩm "Thiên sơn ngày hội"; Tác giả: Quách Mãn Thanh

Nội dung tác phẩm nói đến một ngày hội tại một vùng núi Thiên Sơn. Thể hiện cảnh đẹp hùng vĩ, tính chất vui vẻ, hội hè. Kỹ thuật sử dụng trong bài gồm vê, lướt, 2 bè 2 tay, nẩy chồng âm, kép chùm 8. Kỹ thuật vê liền liên tục kéo dài thể hiện được sự dàn trải của đoạn 1, miêu tả về cảnh đẹp của núi non. Ở nhịp cuối, đối chiếu 2 tay 2 hướng cách xa đòi hỏi sinh viên phải đánh rất chính xác. Với tốc độ nhanh, sinh viên cần phải tập luyện thật nhiều. Ở đoạn 2, tính chất âm nhạc vui vẻ, nhanh nhẹn thể hiện không khí ngày hội, kỹ thuật nẩy chồng âm phải nẩy rất nhanh, không được ríu tay. Dùng cổ tay nẩy và hỗ trợ nhấc cánh tay ở đầu phách. Đặc biệt kỹ thuật này còn khó hơn nữa khi nẩy liên tục kép chùm 6.

  1. Tác phẩm "Giai điệu mùa hạ"; Cải biên dân ca Ghana: Phí Nhân Tường

Tác phẩm này sử dụng kỹ thuật vê, lướt, bịt ngón, kép chùm 8, chùm 9. Điều cần chú ý trong bài là kỹ thuật kép chùm 8 và chùm 9 phải rất đều và nhanh gần như lướt.

  1. Tác phẩm "Phượng hoàng"; Cải biên dân ca Bố Y: Quý Tạp Lễ

Trong bài sử dụng nhiều loại kỹ thuật như láy quãng 4, quãng 5, kỹ thuật trile, kép chùm 8. Kỹ thuật cần chú trọng ỏ đây là kỹ thuật láy quãng xa ngay sau kỹ thuật nẩy. Láy quãng xa vào vê ngay là một kỹ thuật khó, đòi hỏi tay phải đưa thật nhanh, và phải láy tay trái thì vào nốt vê là tay phải, như vậy nốt vê mới được đều.

 

  1. Điều chỉnh, sắp xếp lại các tác phẩm chuyển soạn trong giáo trình
  1. Xác định tiêu chí

Việc sắp xếp thứ tự giảng dậy các tác phẩm chuyển soạn từ "dễ" đến "khó" nhằm phục vụ giảng dậy tác phẩm gắn với đào tạo kỹ thuật trình diễn cần được xem xét sao cho khoa học và tạo được hiệu quả cao trong đào tạo và học tập. Về nguyên tắc, các tác phẩm sử dụng các kỹ thuật dễ và phổ cập được đưa lên trước, tiếp theo là các tác phẩm sử dụng các kỹ thuật khó dẫn, đồng thời có điều kiện để lặp lại các kỹ thuật đã được học ở các tác phẩm trước đó.

Tiêu chí để sắp xếp lại thứ tự các tác phẩm chuyển soạn trong giáo trình như sau:

  1. Theo thứ tự kỹ thuật từ dễ đến khó: Vê, Láy, Lướt, Song long, 2 tay 2 bè, Tree, Nẩy, Nẩy chồng âm, Vuốt, Búng, Bịt ngón, Gẩy đuôi que. Dựa trên cách sắp xếp theo độ khó của kỹ thuật được xếp theo cột của một bảng và các tác phẩm đưa vào giảng dậy xếp theo hàng của bảng đó, có thể đưa ra trình tự giảng dậy các tác phẩm theo độ khó của kỹ thuật theo 2 nguyên tắc sau:
  • Các kỹ thuật dễ được giảng dậy trước, tiếp theo là các kỹ thuật khó dần;
  • Các tác phẩm biên soạn thường được kết hợp nhiều loại kỹ thuật, do đó các tác phẩm có số lượng kỹ thuật ít hơn được đưa vào giảng dậy trước, tiếp theo là các tác phẩm có số lượng kỹ thuật nhiều hơn nhằm tạo điều kiện lặp lại các kỹ thuật đã học như được ôn tập lại.
  1. Bên cạnh tiêu chí kỹ thuật, còn một tiêu chí rất quan trọng là tiêu chí về thể hiện phong cách, tính chất âm nhạc của tác phẩm. Những tiêu chí này gồm các nội dung sau:
  • Các tác phẩm từ quy mô nhỏ đến lớn (các tác phẩm có quy mô nhỏ về phân đoạn, giai điệu đơn giản, tiết tấu đồng đều được coi là dễ, các tác phẩm được phân ra nhiều đoạn, giai điệu phức tạp, tiết tấu không đồng đều được coi là khó).
  • Các tác phẩm có tốc độ từ thấp đến cao (các tác phẩm có tốc độ thấp được coi là dễ, tốc độ cao được coi là khó).
  • Các tác phẩm với âm vực từ hẹp đến rộng (thuận lợi cho việc di chuyển tay thì sẽ được sắp đặt ở mức độ là dễ, các tác phẩm có những quãng rất xa (âm vực rộng), luôn bị chéo tay được sắp đặt ở mức độ khó.
  1. Sắp xếp giáo trình        

Sau khi đã xác định được các tác phẩm chuyển soạn đưa vào giảng dậy theo thứ tự từ dễ đến khó về kỹ thuật, thứ tự từ dễ đến khó về quy mô, tốc độ và âm vực của tác phẩm, chúng tôi đã tổng hợp và sắp xếp cho phù hợp với yêu cầu đạo tạo của từng năm học như trong bảng dưới đây:

NĂM HỌC

Tác phẩm chuyển soạn

NĂM THỨ

  •  

Ngày hội Tân Cương

Valse no 7

Bài ca dệt vải

Concerto no 1

Concerto A moll

Vung roi quất ngựa

Núi đồi xanh hoa nở đỏ tươi

NĂM THỨ

  1.  

Rondo Sonata

Mùa xuân

Sonata no 5

Thuyền rồng

Butterfly lover

Phượng hoàng

Giai điệu mùa hạ

NĂM THỨ

  1.  
  •  

Hoa đỗ quyên

Thiên Sơn ngày hội

Suối nguồn hạnh phúc

Như vậy, với sự sắp xếp lại, chương trình sẽ giúp sinh viên dễ dàng học bài từ dễ đến khó, nâng dần cả về kỹ thuật cũng như cảm thụ xử lý chung về tác phẩm.

  1. Thiết kế giáo án, tổ chức thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm
    1. Biên soạn giáo án

Giáo án: Giảng dạy tác phẩm "Thiên sơn ngày hội"; tác giả: Quách Mãn Thanh, chuyển soạn: Hồng Ánh,

  1. Giảng viên thực hiện: Hồng Ánh;
  2. Đối tượng thực hiện: sinh viên Vũ Thu Hằng, Cao đẳng 2;
  3. Thời gian thực hiện: học kỳ II, tháng 4/2016. Tổng số tiết: 10 tiết.
  4. Nội dung yêu cầu chung:

Tác phẩm "Thiên sơn ngày hội" mang tính chất vui tươi, rộn ràng, không khí lê hội tại một vùng núi, được viết với cấu trúc: Mở màn, tự do - đoạn A dạt dào tình cảm - B nhanh, vui vẻ, sôi động - C tự do, tình cảm. - cadenza - Tái hiện A' - coda huy hoàng. Tác phẩm này sử dụng các kỹ thuật vê , nẩy chồng âm, lướt, hai tay độc lập hai bè, bịt ngón và chạy kép tốc độ nhanh.

Khi sinh viên đã nắm được và có thể diễn tấu được toàn bài bài, giảng viên sẽ chỉnh sửa và trau truốt bài về xử lý sắc thái chi tiết từng đoạn, từng câu. Đoạn A ở tốc độ chậm, tình cảm nhẹ nhàng uyển chuyển với chỉ số tốc độ từ 58 đến 60. Đoạn B tương ứng nhịp 75 đến 80. Tuy nhiên, khi đập như vậy sẽ khó hơn so với việc chuyển thành nhịp kép 4/4, sẽ dễ đập nhịp hơn. Chỉ số tương ứng là từ 150 đến 160.             Sau khi hoàn thành tác phẩm tương đối tốt, giảng viên có thể gợi mở sự sáng tạo, chủ động trong diễn tấu tạo sự phong phú theo nhận thức của sinh viên.

  1. Đánh giá kết quả          

Việc giảng dậy thực nghiệm để đánh giá kết quả được tổ chức với sự tham gia của các giáo viên trong bộ môn tam thập lục. Để đánh giá kết quả, các giảng viên tham gia và sinh viên được phát một phiếu đánh giá như trong Bảng dưới đây. Người được phát phiếu sẽ đánh dấu theo nhận thức của mình vào các mức A (tốt) hoặc B (khá) hoặc C (trung bình) hoặc D (yếu) hoặc Đ (kém) đối với từng chỉ số trong 3 chỉ số với nội dung ở cột chỉ số trong Bảng. Kết quả đánh giá của giảng viên bộ môn tam thập lục được lấy theo trung bình cộng của tất cả các ý kiến đánh giá. Kết quả đánh giá của sinh viên thì chỉ có một và được ghi nguyên kết quả này vào bảng đánh giá chung. Kết quả cụ thể đánh giá của giáo viên và sinh viên được ghi vào cột đánh giá trong Bảng.

Bảng kết quả đánh giá của giáo viên và sinh viên

  1. ố thứ tự

CHỈ SỐ

Đánh giá

  1. iảng viên
  1. inh viên
  1.  

Sự hợp lý về lựa chọn các tác phẩm và sắp xếp trình tự đưa vào giảng dậy

  1.  
  1.  
  1.  

Hiệu quả giảng dậy và học tập đối với các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu

  1.  
  1.  
  1.  

Hiệu quả giảng dậy và học tập đối với các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm nhạc Trung Quốc

  1.  
  1.  

   Qua kết quả điều tra dựa trên 3 chỉ số đánh giá kết quả thực nghiệm, chúng tôi thấy ở chỉ số 1 (Sự hợp lý về lựa chọn các tác phẩm và sắp xếp trình tự đưa vào giảng dậy) có sự khác nhau giữa đánh gía của giảng viên ở mức A và của sinh viên ở mức B. Hai tiêu chí 2 và 3 thì cả giảng viên và sinh viên đều xếp ở mức A. Như vậy với kết quả đánh giá này, giáo án được xếp loại tốt (từ B trở lên).

  1. Tiểu kết Chương 2

Với tính năng cây đàn có âm thanh cố định, không có độ rung, nhấn như các loại đàn dân tộc khác, để phát triển nghệ thuật diễn tấu đàn tam thập lục có xu hướng riêng thiên về các tác phẩm độc tấu. Vì vậy, trong thời lượng giảng dạy của một học trình, thời lượng dành cho tác phẩm chiếm 2/3 tổng lượng giảng dậy, trong dó tác phẩm mới và tác phẩm chuyển soạn được chia đều. Điều này cho thấy tầm quan trọng của tác phẩm chuyển soạn đối với đào tạo đàn tam thập lục.

Mặc dù bộ môn tam thập lục tại trường CĐ NT HN đã có nhiều cố gắng cải tiến giáo trình giảng dậy, nhưng phương thức chung vẫn là dựa trên phương pháp thị phạm, truyền ngón nghề nghệ thuật chơi đàn giữa thầy và trò. Vấn đề đặt ra là cần cải cách hơn nữa cách tiếp cận giảng dậy đàn tam thập lục sao cho vừa bảo đảm tính hiện đại so với chuẩn mực âm nhạc phương Tây và vừa mở rộng tính năng của cây đàn cho âm nhạc dân tộc.

Chương 2 đã trình bầy những phân tích cụ thể về những tác phẩm chuyển soạn cho Tam thập lục đang được giảng dậy tại bộ môn. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy. Các giải pháp bao gồm: (1) Nâng cao chất lượng giảng đạy các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm khí nhạc châu Âu; (2) Nâng cao chất lượng giảng đạy các tác phẩm chuyển soạn từ các tác phẩm sáng tác cho đàn tam thập lục Trung Quốc cho đàn tam thập lục Việt Nam diễn tấu; (3) Sắp xếp lại giáo trình phần các tác phẩm chuyển soạn; (4) Thiết kế giáo án, tổ chức dạy thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm.

Với kết quả đánh giá việc thực nghiệm giáo án mà Chương 2 đã đề ra. Có thể nói những giải pháp đó đã đáp ứng được mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường CĐ NT HN.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

 

  1. Kết luận

Đàn tam thập lục mới được du nhập và tiếp thu như một nhạc cụ dân tộc ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Trải qua quá trình hội nhập và phát triển trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, đàn tam thập lục đã từng bước có chỗ đứng vững chắc trong các dàn nhạc dân tộc, không chỉ đệm cho các nhạc cụ khác mà còn biểu diễn độc tấu trong các hoạt động âm nhạc truyền thống và âm nhạc mới. Chỗ đứng chắc chắn này luôn gắn với những thách thức lớn trong phát huy khả năng kỹ thuật để trình diễn các tác phẩm âm nhạc dân gian Việt Nam, đồng thời dẫn đến các cơ hội lớn trong trình diễn các tác phẩm âm nhạc phương Tây cũng như âm nhạc các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, v.v., kể cả các bài dân ca cũng như các tác phẩm chuyên nghiệp, hiện đại. Tất cả những cơ hội và thách thức này đã được đặt ra như những vấn đề trọng yếu trong việc đổi mới nội dung chương trình, giáo trình đào tạo đàn tam thập lục ở Việt Nam nhằm mục đích vừa gìn giữ bản sắc văn hóa, vừa bảo đảm tính hiện đại, đáp ứng được yêu cầu thưởng thức âm nhạc của đông đảo khán giả trong và ngoài nước.

Nội dung chính của luận án là phân tích các tác phẩm chuyển soạn đang được giảng dậy tại bộ môn tam thập lục hệ cao đẳng tại trường CĐ NT HN, để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dậy theo hướng chuẩn hóa tài liệu giảng dậy và làm phong phú về nội dung.

Từ những kết quả thực nghiệm đã được bộ môn đánh giá đạt kết quả tốt, cộng với sự nỗ lực của các giảng viên trong bộ môn, sự hỗ trợ của khoa Nhạc cụ dân tộc và nhà trường, đề tài nghiên cứu sẽ góp phẩn nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục nói riêng và khoa nhạc cụ dân tộc nói chung.

  1. Khuyến nghị

Để có thể tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm chuyển soạn cho đàn tam thập lục mà đề tài nghiên cứu đã đề xuất, chúng tôi xin khuến nghị một số điểm bao gồm: (1) Tiếp tục tổ chức chuyển soạn các tác phẩm của Việt Nam mới để bổ sung cho giáo trình; (2) Nhà trường, khoa và bộ môn cần bổ sung nguồn tư liệu âm thanh trên đĩa CD, đĩa DVD để sinh viên có điều kiện được nghe tác tác phẩm nguyên gốc do các nghệ sỹ thực hiện; (3) Tổ chức hội nghị khoa học hàng năm để nghiệm thu các tác phẩm chuyển soạn, tiến tới xuất bản chính thức các giáo trình bao gồm các tác phẩm chuyển soạn cũng như các tác phẩm mới cho bộ môn tam thập lục từ hệ trung cấp đến hệ cao đẳng.

 

Đầu trang
  
English


Các khoa, bộ môn
Khoa Piano
Khoa Dây
Khoa Kèn - Gõ
Khoa Accordion - Guitar- Organ
Khoa nhạc Jazz
Khoa Thanh nhạc
Khoa Nhạc cụ Truyền thống
Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy
Khoa Kiến thức Âm nhạc
Khoa Kiến thức Đại cương
Khoa Văn hoá

Quảng cáo
Liên hệ quảng cáo
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
77 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
ĐT: +844 3851 4969 / 3856 1842 - Fax: +844 3851 3545
Website: www.vnam.edu.vn - Email: hvan@vnam.edu.vn